11 Thực Phẩm và Đồ Uống Cần Tránh Trong Thời Kỳ Mang Thai

11 Thực Phẩm và Đồ Uống Cần Tránh Trong Thời Kỳ Mang Thai
5 (100%) 6 votes

Caroty.com trân trọng gửi đến bạn bài viết: 11 Thực Phẩm và ĐUống Cần Tránh Trong Thời KMang Thai

Mang thai là một trong những dấu mốc quan trọng và dễ nhạy cảm nhất trong cuộc đời của mỗi người phụ nữ.

Vì vậy, đây chính là thời điểm cần thiết hơn bao giờ hết để áp dụng một chế độ ăn uống lành mạnh.

Tức là bạn phải chú ý đến những gì bạn ăn và đảm bảo tránh xa những thực phẩm, đồ uống có hại.

Có những loại thực phẩm không nên ăn quá nhiều, thậm chí một số loại cần phải tránh xa hoàn toàn.

Dưới đây là 11 loại thực phẩm và đồ uống mà các bà bầu không nên ăn hoặc hạn chế sử dụng.

1. Cá có hàm lượng thủy ngân cao

Thủy ngân là một nguyên tố rất độc hại. không an toàn khi tiếp xúc và thường có nhiều nhất trong nguồn nước bị ô nhiễm (1).

Lượng lớn thủy ngân có thể gây độc cho hệ thần kinh, hệ miễn dịch và thận (2).

Vì ở các vùng biển bị ô nhiễm chứa thủy ngân nên những loài cá lớn sống ở đó cũng có thể tích lũy hàm lượng thủy ngân cao trong cơ thể.

Do đó, phụ nữ mang thai nên hạn chế tiêu thụ cá chứa nhiều thủy ngân, không nên ăn quá 1-2 lần mỗi tháng (34).

Các loại cá chứa hàm lượng thủy ngân cao bao gồm:

  • Cá mập.
  • Cá kiếm
  • Cá thu.
  • Cá ngừ (đặc biệt là cá ngừ albacore).

Tuy nhiên, không phải loại cá nào cũng chứa nhiều thủy ngân.

Ăn cá có chứa ít thủy ngân trong thời kỳ mang thai đặc biệt tốt cho sức khỏe của cả mẹ và bé, thậm chí có thể ăn 2 lần mỗi tuần. Cá béo rất giàu axit béo omega-3, quan trọng cho sự phát triển của thai nhi.

Điểm mấu chốt: Phụ nữ mang thai không nên ăn cá có chứa nhiều thủy ngân như cá mập, cá kiếm, cá ngừ và cá thu quá 1-2 lần mỗi tháng.

2. Cá sống hoặc cá chưa được nấu chín

Cá sống, đặc biệt là những loài thủy hải sản có vỏ, có thể gây ra nhiều bệnh nhiễm trùng như Norovirus, Vibrio, Salmonella, Listeria và ký sinh trùng (567), trong đó có một số loại chỉ ảnh hưởng đến người mẹ, khiến cơ thể người mẹ mất nước và trở nên suy yếu. Những loại nhiễm trùng khác có thể lây sang thai nhi và gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc thậm chí gây tử vong (56).

Đặc biệt, phụ nữ mang thai rất dễ bị nhiễm trùng Listeria, với nguy cơ nhiễm trùng cao gấp 20 lần so với những người bình thường (8).

Vi khuẩn Listeria thường có trong đất, nước bị ô nhiễm hoặc một số loại thực vật, còn với cá sống, loại vi khuẩn này dễ hình thành trong quá trình chế biến, như khi xông khói hoặc phơi khô.

Ngay cả khi người mẹ không có bất kì dấu hiệu đau ốm nào, listeria vẫn có thể lây truyền sang thai nhi thông qua nhau thai. Hậu quả là dẫn đến sinh non, sảy thai, thai chết lưu và các vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng khác (9).

Vì vậy, phụ nữ đang mang thai nên tránh ăn cá sống và những loài thủy hải sản có vỏ, trong đó có cả món sushi.

Điểm mấu chốt: Cá sống và những loài thủy hải sản có vỏ dễ bị nhiễm vi khuẩn và ký sinh trùng, do đó có thể ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của cả mẹ và thai nhi.

3. Thịt sống, thịt chưa được nấu chín hoặc thịt đã qua chế biến

Ăn thịt sống hoặc thịt chưa được nấu chín làm tăng nguy cơ nhiễm trùng một số loại vi khuẩn hoặc ký sinh trùng, bao gồm Toxoplasma, E.coli, Listeria và Salmonella (10111213).

Vi khuẩn có thể đe doạ đến sức khoẻ của thai nhi, dẫn đến hiện tượng thai chết lưu hoặc các bệnh thần kinh nghiêm trọng như trí não chậm phát triển, mù mắt và động kinh (14).

Hầu hết vi khuẩn xuất hiện ngay trên bề mặt của miếng thịt, nhưng cũng có những loại ẩn sâu bên trong các sợi cơ.

Những đoạn thịt thăn lưng, thịt thăn vai của bê, bò, và cừu – có thể ăn được kể cả khi không nấu chín kĩ mà vẫn an toàn, nhưng với điều kiện là các miếng thịt này phải còn nguyên vẹn, chưa bị cắt ra, và bề ngoài đã chín hẳn. Ngược lại, loại thịt đã được cắt ra để làm chả thịt, nhân thịt, thịt băm, thịt lợn và thịt gia cầm, thì không nên ăn sống hoặc ăn khi chưa được nấu chín.

Xúc xích, thịt hộp và thịt deli là những loại thịt có thể bị nhiễm nhiều loại vi khuẩn khác nhau trong quá trình chế biến hoặc bảo quản.

Vì thế, phụ nữ mang thai chỉ nên ăn thịt khi đã đủ nóng hổi, không nên tiêu thụ các sản phẩm thịt được chế biến sẵn.

Điểm mấu chốt: Thịt sống hoặc thịt chưa được nấu chín thường chứa các vi khuẩn có hại. Do đó, các bà bầu nên ăn thịt đã được nấu chín.

4. Trứng sống

Trứng sống có thể bị nhiễm khuẩn  Salmonella.

Các triệu chứng của nhiễm khuẩn Salmonella thường chỉ có ở người mẹ,  bao gồm sốt, buồn nôn, nôn mửa, co thắt dạ dày và tiêu chảy (1516).

Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp, nhiễm trùng có thể gây co thắt tử cung, dẫn đến sinh non hoặc thai chết lưu (17).

Những thực phẩm thường chứa trứng sống bao gồm:

  • Trứng bác
  • Trứng chần.
  • Sốt bơ trứng Hollandaise.
  • Sốt mayonnaise tự làm.
  • Sốt salad.
  • Kem tự làm.
  • Bánh kem.

Hầu hết các sản phẩm thương mại chứa trứng sống trên thị trường đều được làm từ trứng đã được tiệt trùng, nên có thể đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, bạn vẫn nên đọc kĩ nhãn mác trước khi sử dụng.

Tóm lại, phụ nữ mang thai nên ăn trứng chín kĩ hoặc trứng đã được tiệt trùng.

Điểm mấu chốt: Trứng sống có thể bị nhiễm khuẩn Salmonella, gây ra bệnh tật và tăng nguy cơ sinh non hoặc thai chết lưu. Có thể sử dụng trứng đã qua tiệt trùng để thay thế.

5. Thịt các cơ quan nội tạng

Thịt cơ quan nội tạng là nguồn dinh dưỡng tuyệt vời, cung cấp sắt, vitamin B12, vitamin A và đồng, tất cả đều tốt cho mẹ và thai nhi.

Tuy nhiên, trong suốt thời kì mang thai, người mẹ không nên tiêu thụ quá nhiều vitamin A từ động vật (vitamin A đã được hình thành trước).

Nó có thể gây nhiễm độc vitamin A, khiến hàm lượng đồng cao bất thường, từ đó dẫn đến dị tật bẩm sinh và nhiễm độc gan (181920).

Do đó, phụ nữ mang thai không nên ăn thịt cơ quan nội tạng quá 1 lần mỗi tuần.

Điểm mấu chốt: Thịt nội tạng là một nguồn dồi dào sắt, vitamin B12, vitamin A và đồng. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai  nên hạn chế ăn loại thịt này để tránh bị nhiễm độc vitamin A và đồng.

6. Caffeine

Caffeine là chất kích thích thần kinh phổ biến nhất trên thế giới, chủ yếu có trong cà phê, trà, đồ uống không cồn và nước ca cao (2122).

Phụ nữ mang thai thường được khuyến cáo là nên hạn chế lượng caffeine tiêu thụ mỗi ngày xuống dưới 200 mg, tương đương khoảng 2-3 cốc cà phê.

Caffeine rất nhanh được hấp thụ và dễ dàng đi vào nhau thai và bào thai.

Vì thai nhi và nhau thai không có loại enzyme cần thiết để chuyển hóa caffeine, nên caffeine thường tích tụ với hàm lượng cao (232425), từ đó có thể hạn chế sự phát triển của thai nhi và làm tăng nguy cơ bị nhẹ cân khi sinh (26).

Trẻ sinh ra chỉ nặng dưới 2,5 kg được xem là nhẹ cân, có thể dẫn đến tử vong và nguy cơ cao bị mắc các bệnh mãn tĩnh ở tuổi trưởng thành như bệnh tiểu đường loại 2 và bệnh tim (2728).

Điểm mấu chốt: Phụ nữ mang thai chỉ nên tiêu thụ khoảng 200 mg caffeine mỗi ngày, tương đương khoảng 2-3 cốc cà phê, bởi vì tiêu thụ nhiều caffeine trong thời kỳ mang thai có thể kìm hãm sự phát triển của thai nhi và khiến trẻ sinh ra bị nhẹ cân.

7. Rau mầm sống

Các loại rau mầm sống, bao gồm cỏ linh lăng, cỏ ba lá, củ cải và giá đỗ có thể bị nhiễm khuẩn Salmonella (29).

Không giống như hầu hết các loại rau khác, những vi khuẩn này có thể xâm nhập vào hạt mầm nên không thể rửa trôi được.

Do đó, phụ nữ mang thai nên tránh ăn các loại rau mầm sống, chỉ nên ăn sau khi đã nấu chín (30).

Điểm mấu chốt: Các loại rau mầm sống có thể bị nhiễm khuẩn từ bên trong hạt giống. Do đó, phụ nữ mang thai chỉ nên ăn mầm đã được nấu chín.

8. Thực phẩm chưa được rửa sạch

Trên bề mặt trái cây và rau củ chưa rửa hoặc chưa gọt vỏ rất dễ bị nhiễm một số loại vi khuẩn và ký sinh trùng (31), như Toxoplasma, E.coli, Salmonella và Listeria, được sinh ra từ đất hoặc thông qua quá trình trao đổi, tiếp xúc. Sự nhiễm bẩn có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong quá trình sản xuất, thu hoạch, chế biến, bảo quản, vận chuyển hoặc mua bán (29).

Vi khuẩn có thể gây hại cho cả mẹ và thai nhi. Điển hình là Toxoplasma – một loại ký sinh trùng rất nguy hiểm, hay ẩn trong trái cây và rau quả.

Phần lớn những người khi bị nhiễm kí sinh trùng Toxoplasma đều không xuất hiện triệu chứng nào, nhưng một vài trường hợp sẽ có cảm giác như bị cúm trong vòng 1 tháng hoặc hơn.

Hầu hết trẻ sơ sinh bị nhiễm Toxoplasma khi vẫn còn trong dạ con thì khi sinh ra sẽ không thấy có triệu chứng. Tuy nhiên, về lâu dài sau này có thể dẫn đến mù lòa hoặc khuyết tật trí tuệ.

Hơn nữa, trong số những trẻ sơ sinh bị nhiễm bệnh, có một tỷ lệ nhỏ trẻ bị tổn thương mắt và não nghiêm trọng khi ra đời.

Trong thời kì mang thai, để giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng, trước khi ăn rau quả, bạn nên rửa sạch, gọt vỏ hoặc nấu chín (29).

Điểm mấu chốt: Trái cây và rau củ có thể bị nhiễm một số loại vi khuẩn gây hại. Do đó, cần đảm bảo rửa sạch trước khi ăn.

9. Sữa, pho mát và nước ép trái cây chưa được tiệt trùng

Sữa tươi và pho mát chưa qua tiệt trùng có thể chứa một loạt các vi khuẩn gây hại như Listeria, Salmonella, E. coli và Campylobacter.

Nước ép trái cây chưa qua tiệt trùng cũng tương tự như vậy.

Những trường hợp nhiễm trùng này có thể gây hậu quả nghiêm trọng, đe dọa đến mạng sống của thai nhi (3233343536).

Vi khuẩn có thể tự nhiên hình thành, hoặc cũng có thể do sự nhiễm bẩn trong quá trình thu gom và bảo quản gây ra (3637).

Tiệt trùng là phương pháp hiệu quả nhất để tiêu diệt mọi vi khuẩn có hại mà không làm thay đổi giá trị dinh dưỡng của sản phẩm (38).

Để giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng, phụ nữ mang thai chỉ nên sử dụng sữa, pho mát và nước ép trái cây đã qua tiệt trùng.

Điểm mấu chốt: Phụ nữ mang thai không nên tiêu thụ sữa, pho mát hoặc nước trái cây mà chưa được tiệt trùng, vì chúng có thể làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn.

10. Rượu

Phụ nữ mang thai được khuyến cáo nên tránh xa rượu hoàn toàn, vì nó có thể làm tăng nguy cơ sảy thai và thai chết lưu. Thậm chí chỉ một lượng nhỏ rượu cũng có thể ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển trí não của thai nhi (39404142).

Nó cũng có thể gây ra hội chứng rượu bào thai, gây dị tật trên khuôn mặt, khuyết tật tim và trí não chậm phát triển (4344).

Vẫn chưa thể xác định mức độ được cho là an toàn khi uống rượu trong giai đoạn thai kì, do đó tốt nhất là tránh xa rượu.

Điểm mấu chốt: Phụ nữ mang thai không nên uống rượu, vì nó có thể làm tăng nguy cơ sảy thai, thai chết lưu và hội chứng rượu bào thai.

11. Đồ ăn vặt được chế biến sẵn

Mang thai là thời kỳ cơ thể phát triển rất nhanh và cần được tăng cường bổ sung nhiều dưỡng chất thiết yếu như protein, folate và sắt.

Tuy nhiên, nuôi hai người cùng một lúc không có nghĩa là bạn phải bổ sung lượng calo nhiều gấp đôi. Thực chất, bạn chỉ cần bổ sung thêm khoảng 350-500 calo mỗi ngày trong giai đoạn quý 2 và quý 3 của thai kì (45).

Chế độ ăn tốt nhất khi mang thai nên bao gồm chủ yếu các loại thực phẩm tươi ngon nguyên chất, với nhiều chất dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu của cả mẹ và thai nhi.

Đồ ăn vặt được chế biến sẵn thường chứa rất ít dinh dưỡng, trong khi đó lại rất giàu calo, đường và các chất béo bổ sung.

Hơn nữa, đường phụ gia có trong đồ ăn vặt còn làm tăng nguy cơ phát triển một số bệnh như bệnh tiểu đường loại 2 và bệnh tim (4647).

Tăng cân được cho là cần thiết trong thời kỳ mang thai, nhưng nếu tăng cân quá nhiều sẽ gây ra nhiều biến chứng và bệnh tật, trong đó có tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường thời kì thai nghén và các biến chứng khi mang thai hoặc khi sinh. Ngoài ra còn làm tăng nguy cơ bị thừa cân ở trẻ (4849).

Thậm chí còn có thể gây ra các vấn đề về sức khoẻ lâu dài, bởi vì khả năng thừa cân ở trẻ sơ sinh có thể kéo dài cho đến tận khi trưởng thành (505152).

Điểm mấu chốt: Ăn thực phẩm được chế biến sẵn trong khi mang thai có thể gây tăng cân vượt mức, dẫn đến nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường thời kì thai nghén và nhiều biến chứng khác, thậm chí còn ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe của trẻ.

Thông điệp cần ghi nhớ

Trong thời kì mang thai nên đặc biệt chú ý giữ vệ sinh an toàn thực phẩm.

Mặc dù rất khó để kiểm soát, vì một số thực phẩm có thể đã bị ô nhiễm từ trước, nhưng nên tiêu thụ những thực phẩm này càng ít càng tốt vì sức khoẻ của cả mẹ và thai nhi.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về những loại thực phẩm nên ăn trong thời kỳ mang thai, hãy tham khảo bài viết: 13 thực phẩm nên ăn trong thời kì mang thai.

Caroty tổng hợp từ Webmd, Pubmed, Healthscript, Authoritynutrition…

Hãy cho chúng tôi biết suy nghĩ của bạn về bài viết này thông qua việc để lại comment ở dưới đây. Nếu bạn thấy bài viết hữu ích hãy like và share ngay nhé.

Danh mục tài liệu tham khảo từ các công trình nghiên cứu, bằng chứng khoa học:

1. Mercury exposure and children’s health.
Bose-O’Reilly S1, McCarty KM, Steckling N, Lettmeier B.
2. Mercury exposure: medical and public health issues.
Mahaffey KR.
3. Prenatal exposure to mercury and fish consumption during pregnancy and attention-deficit/hyperactivity disorder-related behavior in children.
Sagiv SK1, Thurston SW, Bellinger DC, Amarasiriwardena C, Korrick SA.
4. Moms and Mercury: Fine-Tuning Fish Consumption During Pregnancy
Ernie Hood
5. Infections related to the ingestion of seafood. Part II: parasitic infections and food safety.
Butt AA1, Aldridge KE, Sanders CV.
6. Infections related to the ingestion of seafood Part I: Viral and bacterial infections.
Butt AA1, Aldridge KE, Sanders CV.
7. Food safety during pregnancy.
Taylor M, Galanis E.
8. Intracellular pathogenesis of listeriosis.
Southwick FS1, Purich DL.
9. Sources of toxoplasma infection in pregnant women: European multicentre case-control study. European Research Network on Congenital Toxoplasmosis.
Cook AJ1, Gilbert RE, Buffolano W, Zufferey J, Petersen E, Jenum PA, Foulon W, Semprini AE, Dunn DT.
10. Risk factors for Toxoplasma gondii infection in the United States.
Jones JL1, Dargelas V, Roberts J, Press C, Remington JS, Montoya JG.
11. Salmonella in raw meat and by-products from pork and beef.
Meyer C1, Thiel S, Ullrich U, Stolle A.
12. Prevalence of Listeria spp and Listeria monocytogenes in meat and fermented fish in Malaysia.
Hassan Z1, Purwati E, Radu S, Rahim RA, Rusul G.
13. Preventing congenital toxoplasmosis.
Lopez A1, Dietz VJ, Wilson M, Navin TR, Jones JL.
14. Recipe for Food Safety
Protecting people from deadly Listeria food poisoning
15. Food handling behaviors of special importance for pregnant women, infants and young children, the elderly, and immune-compromised people.
Kendall P1, Medeiros LC, Hillers V, Chen G, DiMascola S.
16. Raw egg ingestion and salmonellosis in body builders.
Mackenzie AR1, Laing RB, Cadwgan AM, Reid TM, Smith CC.
17. Salmonella sepsis and second-trimester pregnancy loss.
Scialli AR1, Rarick TL.
18. Hypervitaminosis a in early human pregnancy and malformations of the central nervous system.
Stånge L, Carlström K, Eriksson M.
19. Vitamin A and the developing embryo.
Maden M.
20. A case of isolated elevated copper levels during pregnancy.
Walker LR1, Rattigan M, Canterino J.
21. [Is caffeine addictive? The most widely used psychoactive substance in the world affects same parts of the brain as cocaine].
[Article in Swedish]
Daly JW1, Holmén J, Fredholm BB.
22. Recent advances in caffeine and theobromine toxicities: a review.
Eteng MU1, Eyong EU, Akpanyung EO, Agiang MA, Aremu CY.
23. Maternal caffeine intake during pregnancy is associated with birth weight but not with gestational length: results from a large prospective observational cohort study.
Sengpiel V1, Elind E, Bacelis J, Nilsson S, Grove J, Myhre R, Haugen M, Meltzer HM, Alexander J, Jacobsson B, Brantsaeter AL.
24. Maternal caffeine intake during pregnancy and risk of fetal growth restriction: a large prospective observational study.
CARE Study Group.
25. Caffeine metabolism in the newborn.
Aldridge A, Aranda JV, Neims AH.
26. Maternal caffeine intake during pregnancy is associated with risk of low birth weight: a systematic review and dose-response meta-analysis.
Chen LW, Wu Y, Neelakantan N, Chong MF, Pan A, van Dam RM.
27. Developmental origins of the metabolic syndrome: prediction, plasticity, and programming.
McMillen IC1, Robinson JS.
28. 4 million neonatal deaths: when? Where? Why?
Lawn JE1, Cousens S, Zupan J; Lancet Neonatal Survival Steering Team.
29. Factors influencing the microbial safety of fresh produce: a review.
Olaimat AN1, Holley RA.
30. Sprouts: What You Should Know
31. Bacterial communities associated with the surfaces of fresh fruits and vegetables.
Leff JW1, Fierer N.
32. Food safety hazards associated with consumption of raw milk.
Oliver SP1, Boor KJ, Murphy SC, Murinda SE.
33. Food safety: unpasteurized milk: a continued public health threat.
Lejeune JT1, Rajala-Schultz PJ.
34. The complex microbiota of raw milk.
Quigley L1, O’Sullivan O, Stanton C, Beresford TP, Ross RP, Fitzgerald GF, Cotter PD.
35. Listeria monocytogenes and Salmonella spp. in raw milk produced in Brazil: occurrence and interference of indigenous microbiota in their isolation and development.
Nero LA1, de Mattos MR, Barros Mde A, Ortolani MB, Beloti V, Franco BD.
36. Consumption of raw or unpasteurized milk and milk products by pregnant women and children.
Committee on Infectious Diseases; Committee on Nutrition; American Academy of Pediatrics.
37. Microbiological quality and safety of raw milk and soft cheese and detection of autochthonous lactic acid bacteria with antagonistic activity against Listeria monocytogenes, Salmonella Spp., and Staphylococcus aureus.
Ortolani MB1, Yamazi AK, Moraes PM, Viçosa GN, Nero LA.
38. Food safety: unpasteurized milk: a continued public health threat.
Lejeune JT1, Rajala-Schultz PJ.
39. Alcohol consumption during pregnancy and the risk of early stillbirth among singletons.
Aliyu MH1, Wilson RE, Zoorob R, Chakrabarty S, Alio AP, Kirby RS, Salihu HM.
40. Prenatal alcohol exposure and miscarriage, stillbirth, preterm delivery, and sudden infant death syndrome.
Bailey BA1, Sokol RJ.
41. A longitudinal study of the long-term consequences of drinking during pregnancy: heavy in utero alcohol exposure disrupts the normal processes of brain development.
Lebel C1, Mattson SN, Riley EP, Jones KL, Adnams CM, May PA, Bookheimer SY, O’Connor MJ, Narr KL, Kan E, Abaryan Z, Sowell ER.
42. Regional brain volume reductions relate to facial dysmorphology and neurocognitive function in fetal alcohol spectrum disorders.
Roussotte FF1, Sulik KK, Mattson SN, Riley EP, Jones KL, Adnams CM, May PA, O’Connor MJ, Narr KL, Sowell ER.
43. [Diagnosis of fetal alcohol spectrum disorders].
[Article in Dutch]
van Wieringen H1, Letteboer TG, Pereira RR, de Ruiter S, Balemans WA, Lindhout D.
44. Maternal risk factors for fetal alcohol syndrome and partial fetal alcohol syndrome in South Africa: a third study.
May PA1, Gossage JP, Marais AS, Hendricks LS, Snell CL, Tabachnick BG, Stellavato C, Buckley DG, Brooke LE, Viljoen DL.
45. Dietary intake and nutritional adequacy prior to conception and during pregnancy: a follow-up study in the north of Portugal.
Pinto E1, Barros H, dos Santos Silva I.
46. Added sugar intake and cardiovascular diseases mortality among US adults.
Yang Q1, Zhang Z1, Gregg EW2, Flanders WD3, Merritt R1, Hu FB4.
47. Dietary sugar and body weight: have we reached a crisis in the epidemic of obesity and diabetes?: health be damned! Pour on the sugar.
Bray GA1, Popkin BM.
48. Maternal weight gain in women who develop gestational diabetes mellitus.
Gibson KS1, Waters TP, Catalano PM.
49. Gestational weight gain and risk of gestational diabetes mellitus.
Hedderson MM1, Gunderson EP, Ferrara A.
50. Maternal weight gain during pregnancy and child weight at age 3 years.
Olson CM1, Strawderman MS, Dennison BA.
51. Gestational weight gain and child adiposity at age 3 years.
Oken E1, Taveras EM, Kleinman KP, Rich-Edwards JW, Gillman MW.
52. Obesity in children.
Lifshitz F1.