Ăn Gì Để Không Chết Vì Bệnh Ung Thư Máu ?

Ăn Gì Để Không Chết Vì Bệnh Ung Thư Máu ?
5 (100%) 2 votes

Caroty.com trân trọng gửi đến bạn bài viết: Ăn Gì Để Không Chết Vì Bệnh Ung Thư Máu ?

KIẾN THỨC CƠ BẢN

Máu là gì ?

Máu gồm có tế bào máu (blood cells) và huyết tương (plasma), huyết tương là phần chất lỏng của máu. Đây là chất dịch chuyên chở tế bào máu – những mảnh cực nhỏ trôi nổi lơ lửng trong huyết tương.

Tủy xương là gì ?

Loại mô xốp chiếm phần lõi rỗng của xương là tủy xương. Đây là ‘nhà máy’ tế bào máu. Khi tế bào máu trưởng thành và khi cơ thể cần thêm máu vì lý do đặc biệt, chúng sẽ rời khỏi tủy xương nhập vào dòng máu. Trong cơ thể khỏe mạnh, tủy xương sản sinh phần lớn ba loại tế bào máu, như:

  1. Hồng cầu
  2. Bạch cầu
  3. Tiểu cầu.

Cơ thể cẩn thận kiểm soát sự tăng trưởng và phát triển của tế bào máu, nhằm sản sinh đúng số lượng mỗi loại tế bào máu để giữ cho cơ thể được khỏe mạnh.

  • Mỗi giây đồng hồ, cơ thể sản sinh ra hàng triệu hồng cầu và bạch cầu.
  • Thông thường các tế bào này nằm trong tủy xương cho đến khi trưởng thành để lưu chuyển trong mạch máu và hoàn thành được nhiều chức năng khác nhau.
  • Tất cả tế bào máu sẽ trưởng thành, rồi chết, nhưng tuổi thọ của mỗi tế bào khác biệt nhau đáng kể.
  • Sau khi rời khỏi tủy xương, hồng cầu sống được chừng bốn tháng.
  • Bạch cầu chỉ sống được một vài tiếng.
  • Tiểu cầu sống được một vài ngày.
  • Vì tuổi thọ của bạch cầu và tiểu cầu ngắn ngủi, do đó, khó thay thế bằng phương pháp truyền máu.

Nhiệm vụ hồng cầu là gì ?

Hồng cầu (Xe bồn chở nhiên liệu)

  • Có huyết cầu tố để chở ôxy từ phổi đi khắp mọi nơi trong cơ thể. Dọc đường, hồng cầu tiếp thu chất thải và đem trở lại phổi, rồi cơ thể thải ra ngoài dưới dạng thán khí (cácbon diôxít).
  • Nếu thiếu hồng cầu, con người cảm thấy mệt mỏi và yếu sức. Có người dễ bị mệt và tái xanh, vì cơ thể không có đủ lượng ôxy cần thiết. Tình trạng thiếu hồng cầu gọi là thiếu máu.

Nhiệm vụ của bạch cầu là gì ?

Bạch cầu (Lính đánh thuê chống lại viêm nhiễm)

  • Chống viêm nhiễm, tiêu diệt vi trùng (khuẩn) gây bệnh và những tế bào bị tổn thương trong cơ thể.
  • Bạch huyết bào-T (T-lymphocytes) điều khiển hệ miễn nhiễm, có thể diệt siêu vi khuẩn và tế bào ung thư.
  • Bạch huyết bào-B (B-lymphocytes) sản sinh kháng thể.
  • Bạch cầu trung tính (Neutrophils) chống viêm nhiễm, tiêu diệt vi khuẩn và xử lý mô bị tổn thương.
  • Bạch cầu đơn nhân to (Monocytes) kết hợp với bạch huyết bào để chống lại viêm nhiễm, cần thiết cho việc sản sinh kháng thể.
  • Tình trạng thiếu bạch cầu làm cho con người thường hay bị viêm nhiễm và nếu bị viêm nhiễm thì bị nặng hơn, có khi nguy hiểm đến tính mạng.

Nhiệm vụ của tiểu cầu là gì ?

Tiểu cầu (Tế bào tu sửa)

  • Làm máu đông hay đóng cục để cầm máu. Nếu mạch máu bị tổn thương (thí dụ như da bị cắt hay bầm), các tiểu cầu sẽ dồn đến điểm này và bám dính vào nhau, tạo thành ‘nút chặn vết hở’.
  • Thiếu tiểu cầu, có thể làm cho con người thường hay bị chảy máu mũi, khi bị cắt thì chảy máu lâu dứt, bị bầm bất bình thường, hoặc đi cầu, đi tiểu ra máu, da bị chảy máu.
  • Trong trường hợp trầm trọng, khi lượng tiểu cầu xuống quá thấp, các cơ quan nội tạng và não bộ có thể bị xuất huyết.

Gia đình tế bào máu gồm những gì ?

Tất cả tế bào máu đều có cùng một nguồn gốc từ tế bào mầm (stem cell) hay tế bào tiền thân (precursor cell). Tuy nhiên, trong thời kỳ phát triển ban đầu, các tế bào này chia thành hai gia đình chính – tủy bào (myeloid) và bạch huyết bào (lymphoid).

Gia đình tủy bào gồm có:

  • hồng cầu, tiểu cầu và các bạch cầu nhất định. Bạch cầu trong gia đình này gọi là bạch cầu hạt (granulocytes) hay bạch cầu đơn nhân to (monocytes), tùy theo chức năng.

Gia đình bạch huyết bào gồm có:

  • tất cả các bạch cầu còn lại. Khi trưởng thành, những tế bào này gọi là bạch huyết bào (lymphocytes).

Cách hai gia đình tế bào máu chống viêm nhiễm như thế nào ?

Dù bạch cầu thuộc hai gia đình này cùng lâm chiến chống lại kẻ thù gây viêm nhiễm, nhưng sử dụng phương pháp khác nhau.

Bạch hầu thuộc gia đình tủy bào là ‘hàng rào phòng thủ chống viêm nihễm’ đầu tiên của cơ thể. Các bạch huyết bào phải mất nhiều thời gian hơn mới huy động được, nhưng lại có khả năng chống vi khuẩn xâm lược chuyên nghiệp hơn.

Bạch huyết bào còn hiện diện trong các mô bạch huyết khắp nơi trong cơ thể. Đa số mô bạch huyết tập trung tại hạch bạch huyết, gan, lá lách, dọc theo đường ruột và đường hô hấp.

Hệ bạch huyết là hệ thống tiếp thu chất thải, lọc và thoát chất dịch. Tuy nhiên, tương tự như hệ tuần hoàn vận chuyển máu, hệ bạch huyết vận chuyển chất dịch trong gọi là máu trắng. Chất dịch này giúp vận chuyển bạch huyết bào. Như vậy, bạch huyết bào hiện diện cả trong máu đỏ lẫn máu trắng.

…………………………………………………………………………………………………………………………………………….

Bệnh bạch cầu ác tính ở trẻ em là một trong số ít những thành công của chúng ta trong cuộc chiến chống ung thư, với tỉ lệ sống sót trong 10 năm lên tới 90%.1 Tuy nhiên, căn bệnh vẫn ảnh hưởng đến nhiều trẻ em hơn bất kỳ loại ung thư nào khác và là bệnh được chẩn đoán cao gấp 10 lần ở người lớn – những người mà các phương pháp điều trị hiện tại ít hiệu quả hơn. 2

Chúng ta có thể làm gì để ngăn ngừa ung thư máu ngay từ đầu?

Ung thư máu đôi khi còn được biết đến là các khối u lỏng, vì các tế bào ung thư thường xuyên lưu thông trong cơ thể hơn là tập trung thành một khối rắn. Những loại ung thư này thường không được phát hiện trong tủy xương, loại mô xốp bên trong xương nơi các tế bào hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu được sinh ra.

Khi khỏe mạnh, các tế bào hồng cầu sẽ vận chuyển cung cấp oxy trong cơ thể, các tế bào bạch cầu chống lại nhiễm trùng, và tiểu cầu sẽ giúp máu đông lại. Hầu hết các loại ung thư máu đều là do đột biến tế bào bạch cầu.

Ung thư máu có thể được phân thành ba loại: bạch cầu, bạch huyết (u lympho), và u tủy.

Ung thư bạch cầu là một bệnh mà tủy đột ngột xuất hiện các tế bào bạch cầu bất thường. Không giống những tế bào bình thường, những “kẻ mạo danh” này không thể kháng lại nhiễm trùng.

Chúng cũng làm suy giảm khả năng tạo ra các tế bào hồng cầu và bạch cầu thông thường của tủy bằng cách đẩy các tế bào khỏe mạnh ra, làm giảm số lượng tế bào máu dẫn đến thiếu máu, nhiễm trùng, và cuối cùng là tử vong. Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, 52.000 người Mỹ được chẩn đoán bị bệnh bạch cầu, và 24.000 người tử vong vì bệnh này mỗi năm. 3

Ung thư hạch bạch huyết là một loại ung thư máu của tế bào lympho – những tế bào bạch cầu chuyên biệt. Tế bào lympho nhân lên nhanh chóng và có thể thu được tại hạch bạch huyết, các cơ quan miễn dịch nhỏ trải khắp cơ thể, bao gồm cả nách, cổ và háng. Hạch bạch huyết giúp lọc máu.

Giống như bệnh bạch cầu, bệnh bạch huyết có thể loại bỏ các tế bào khỏe mạnh và làm giảm khả năng chống lại sự nhiễm trùng. Bạn có thể đã nghe nói về “Ung thư hạch không Hodgkin” (non-Hodgkin’s lymphoma). Trong khi, bệnh Hodgkin (u lympho Hodgkin) là một dạng ung thư hạch bạch huyết hiếm gặp và có thể điều trị được.

Như chính cái tên của mình, ung thư hạch không Hodgkin (NHL) bao gồm tất cả các loại ung thư hạch bạch huyết khác không phải bệnh Hodgkin. Các bệnh này phổ biến hơn và có thể khó chữa trị hơn, và càng lớn tuổi thì nguy cơ càng cao. Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ ước tính có khoảng 70.000 trường hợp mới mắc ung thư hạch không Hodgkin mỗi năm và có khoảng 19.000 trường hợp tử vong. 4

Cuối cùng, u tủy là một loại ung thư các tế bào plasma – các tế bào bạch cầu sản sinh ra các kháng thể và protein có khả năng bám lấy những tác nhân tấn công cơ thể và các tế bào bị nhiễm khuẩn để trung hòa, loại bỏ chúng. Các tế bào ung thư ác tính có thể di chuyển các tế bào khỏe mạnh ở tủy xương đi và tạo ra các kháng thể bất thường có thể làm tắc nghẽn thận.

Khoảng 90 % những người bị bệnh u tủy được phát hiện với khối lượng tế bào ung thư phát triển trong xương ở nhiều bộ phận, do đó đã xuất hiện thuật ngữ phổ biến cho tình trạng này, đa u tủy xương. Mỗi năm, có đến 24.000 người bị chẩn đoán mắc chứng đa u tủy xương và 11.000 người tử vong. 5

Hầu hết những người bị đa u tủy chỉ sống được vài năm sau khi chẩn đoán. Mặc dù có thể điều trị được, nhưng đa u tủy được coi là không thể chữa khỏi. Đó là lý do tại sao phòng ngừa là yếu tố then chốt. May mắn là, thay đổi chế độ ăn uống có thể làm giảm nguy cơ mắc các bệnh ung thư máu nói trên.

ĂN GÌ ĐỂ GIẢM NGUY CƠ MẮC UNG THƯ MÁU

Sau khi nghiên cứu 60.000 người trong hơn 10 năm, các nhà nghiên cứu trường Đại học Oxford đã khám phá ra rằng những người có chế độ ăn uống chủ yếu là thực vật có ít khả năng phát triển tất cả các dạng ung thư kết hợp lại nhất.

Khả năng bảo vệ lớn nhất của chế độ ăn này được thể hiện trong việc chống lại ung thư máu. Tỷ lệ mắc bệnh bạch cầu, bạch huyết và đa u tủy ở những người ăn chay chỉ gần bằng một nửa số người ăn thịt. 6

Tại sao lại có thể giảm nguy cơ ung thư máu chỉ bằng chế độ ăn nhiều thực vật? Tạp chí British Journal of Cancer đã kết luận: “Cần thêm nghiên cứu để hiểu được cơ chế đằng sau kết quả này.” 7 Trong khi họ còn đang tìm hiểu lý do, tại sao không bắt đầu luôn và thử thêm nhiều loại thực phẩm thực vật lành mạnh vào bữa ăn của bạn ngày hôm nay?

Ăn rau xanh giúp phòng ngừa và chữa trị ung thư

Chìa khóa để phòng ngừa và điều trị ung thư là giữ cho tế bào khối u không được nhân lên trong khi vẫn cho phép các tế bào khỏe mạnh phát triển bình thường. Hoá trị liệu và chiếu xạ có thể làm tốt công việc quét sạch các tế bào ung thư, nhưng các tế bào khỏe mạnh cũng có thể bị đốt sạch. Một số hợp chất trong thực vật có khả năng phân biệt tốt hơn.

Ví dụ, sulforaphane, được coi là một trong những thành phần có hoạt tính cao hơn trong rau họ cải, có thể loại bỏ các tế bào bệnh bạch cầu ở người trong một đĩa petri trong khi gần như không gây ảnh hưởng đến sự phát triển của các tế bào bình thường. 8

Như chúng ta đã từng thảo luận, các loại rau họ cải gồm có bông cải xanh, súp lơ và cải xoăn, nhưng còn rất nhiều loại khác trong họ này, bao gồm cải rổ, xà lách xoong, cải bẹ trắng, su hào, củ cải nghệ, củ cải, rau arugula , củ cải đỏ (bao gồm cải ngựa), mù tạt, và tất cả các loại bắp cải.

Thật tuyệt vời khi cho hợp chất từ cải bắp lên tế bào ung thư có thể tác động đến chúng trong phòng thí nghiệm, tuy nhiên, điều quan trọng là liệu những người mắc bệnh ung thư máu ăn nhiều rau quả có thể thực sự sống lâu hơn những người không ăn hay không ?

Trong khoảng 8 năm, các nhà nghiên cứu trường đại học Yale đã theo dõi hơn 500 phụ nữ mắc ung thư hạch không Hodgkin. Những người bắt đầu ăn 3 khẩu phần rau củ hoặc nhiều hơn mỗi ngày có tỷ lệ sống sót được cải thiện đến 42% so với những người ăn ít rau hơn.

Các loại rau lá xanh, bao gồm salad và rau xanh nấu chín, và quả họ cam có khả năng bảo vệ cơ thể tốt nhất. 9 Mặc dù vẫn còn chưa rõ ràng rằng khả năng sống tăng lên là do rau củ quả ngăn ngừa ung thư hay chúng làm tăng khả năng chịu đựng hóa trị và xạ trị của bệnh nhân.

Các bài xã luận đi kèm trong tạp chí Ung thư bạch cầu và bạch huyết cho thấy rằng “chẩn đoán ung thư hạch bạch huyết có thể là một bài học dạy bạn phải cải thiện chế độ ăn uống …” 10 Tôi khuyên bạn không nên chờ đợi cho đến khi một chẩn đoán ung thư xuất hiện mới thay đổi chế độ ăn uống.

Nghiên cứu Sức khoẻ Phụ nữ Iowa đã theo dõi hơn 35.000 phụ nữ trong nhiều thập kỷ, cho thấy rằng ăn nhiều bông cải xanh và các loại rau họ cải khác có thể giảm nguy cơ mắc ung thư hạch không Hodgkin ngay từ đầu.11

Tương tự, một nghiên cứu của Mayo Clinic nhận thấy rằng những người ăn khoảng 5 phần rau xanh một tuần hoặc nhiều hơn có tỷ lệ mắc bệnh ung thư hạch bạch huyết ít hơn một nửa so với những người ăn rau ít hơn một lần mỗi tuần. 12

Khả năng bảo vệ của thực vật có thể là do tính chất chống oxy hoá của trái cây và rau củ. Chế độ ăn uống nhiều chất chống oxy hoá có thể giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh ung thư hạch bạch huyết. Lưu ý rằng, tôi nói chế độ ăn uống, chứ không phải thực phẩm chức năng.

Các thực phẩm chức năng bổ sung chất chống oxy hóa dường như không có hiệu quả. 13 Ví dụ, nạp nhiều vitamin C trong chế độ ăn uống của bạn có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư hạch bạch huyết, nhưng uống vitamin C ở dạng thuốc viên dường như không giúp ích gì. Tương tự với các chất chống oxy hoá carotenoid như beta-carotene. 14 Rõ ràng là các loại thuốc không có tác dụng chống ung thư giống như thực vật.

Khi nói đến một số loại ung thư khác, như các bệnh ung thư trong hệ tiêu hóa, thực phẩm chức năng bổ sung chất chống oxy hoá thậm chí có thể làm cho mọi việc trở nên tồi tệ hơn. Sự kết hợp các chất chống oxy hoá như vitamin A, vitamin E, và beta-carotene dạng thuốc viên dẫn đến gia tăng nguy cơ tử vong ở những người uống. 15

Các loại thực phẩm chức năng chỉ chứa một vài chất chống oxy hoá, trong khi cơ thể của bạn cần đến cả trăm chất, tất cả sẽ kết hợp để tạo ra một mạng lưới giúp cơ thể loại bỏ các gốc tự do. Chỉ sử dụng một chất chống oxy hoá duy nhất với liều lượng cao trong thuốc có thể làm mất sự cân bằng hoàn hảo này và thực sự có thể làm giảm khả năng chống lại ung thư của cơ thể.16

Khi bạn mua thực phẩm chức năng bổ sung chất chống oxy hoá, bạn có thể đang phung phí tiền bạc mà lại làm giảm tuổi thọ của bản thân. Hãy tiết kiệm tiền và sức khỏe của bạn bằng cách ăn thực phẩm.

Quả acai có tác dụng chữa trị ung thư bạch cầu ?

Quả acai bắt đầu nổi tiếng từ năm 2008 khi một nhân vật truyền hình nổi tiếng – Tiến sĩ Mehmet Oz nói đến chúng trên chương trình The Oprah Winfrey Show. Điều này dẫn đến một cơn bão các thực phẩm chức năng, bột, đồ uống và các sản phẩm không đáng tin khác dán nhãn quả acai mà thực chất không chứa dù chỉ một quả. 17

Ngay cả các tập đoàn lớn cũng đã nhảy vào phong trào Acai, trong đó có nhãn hàng Anheuser-Busch với đồ uống mang tên 180 Blue “với năng lượng từ quả acai” và Coca-Cola với loại đồ uống Bossa Nova.

Đây là một thực tiễn rất phổ biến trong thị trường thực phẩm bổ sung và thị trường nước giải khát từ “siêu trái cây”, trong đó chưa đầy một phần tư các sản phẩm bán ra có chứa các thành phần được in trên nhãn. 18,19

Nghiên cứu đầu tiên được công bố trên tạp chí y học về tác động của quả acai trên mô người đã được thực hiện trên các tế bào ung thư bạch cầu. Các nhà nghiên cứu đã nhỏ chiết xuất quả acai trên các tế bào ung thư bạch cầu lấy từ một phụ nữ 36 tuổi.

Việc này đã kích hoạt các phản ứng tự huỷ của các tế bào lên đến 86%.20 Tương tự, rắc một ít açai khô đông lạnh lên các tế bào miễn dịch được gọi là các đại thực bào (macrophages) trong đĩa petri đã cho phép các tế bào hấp thụ và tiêu hóa vi khuẩn hơn bình thường tới 40%.21

Mặc dù nghiên cứu về ung thư bạch cầu đã được thực hiện bằng chiết xuất acai, nhưng chưa có nghiên cứu nào được thực hiện trên các bệnh nhân ung thư (mà chỉ mới thực hiện với các tế bào ung thư trong ống nghiệm), nên cần nhiều thử nghiệm hơn nữa.

Thực tế, các nghiên cứu lâm sàng duy nhất về quả acai được xuất bản cho đến nay là hai thử nghiệm nhỏ được ngành công nghiệp tài trợ cho thấy lợi ích khiêm tốn của loại quả này đối với người bị viêm xương khớp 22 và với thông số chuyển hóa của những người thừa cân. 23

Về lợi ích chống oxy hóa, quả acai được xướng tên một cách khá danh dự, đánh bại các siêu sao khác như óc chó, táo, và quả nam việt quất. Tuy nhiên, trên bục vinh quang, huy chương đồng là dành cho đinh hương, huy chương bạc cho quế, và huy chương vàng dành cho món nhiều chất chống oxy hóa nhất tính trên mỗi đô-la lại dành cho cải bắp tím (theo cơ sở dữ liệu của USDA về các loại thực phẩm thông thường). 24Quả acai, khi so sánh với những nhà vô địch này, có vẻ như chỉ là một món đồ uống có vị ngon hơn mà thôi.

Curcumin giúp phòng ngừa và điều trị đa u tủy xương

Như đã nói, đa u tủy là một trong những loại ung thư đáng sợ nhất. Đây là căn bệnh thực sự không thể chữa khỏi ngay cả với những biện pháp điều trị tiên tiến nhất. Khi tế bào u tủy chiếm lấy tủy xương, các tế bào bạch cầu khỏe mạnh tiếp tục giảm về mặt số lượng, làm bạn mẫn cảm hơn với nhiễm trùng.

Giảm hồng cầu có thể dẫn đến thiếu máu, và giảm số lượng tiểu cầu có thể dẫn đến chảy máu nghiêm trọng. Một khi bệnh đã được chẩn đoán, hầu hết mọi người chỉ còn sống chưa tới hơn 5 năm. 25

Đa u tủy xương không phải là bệnh xuất hiện một cách đột ngột. Bệnh này hầu như luôn được báo trước bởi tình trạng tiền ung thư được gọi là bệnh lý gama đơn vòng chưa xác định (MGUS). 26

Khi các nhà khoa học lần đầu khám phá ra MGUS, bệnh được đặt tên như vậy là vì lúc đó ý nghĩa của việc tìm ra mức độ kháng thể bất thường trong cơ thể là không rõ ràng. Bây giờ chúng ta biết rằng nó là tiền thân của bệnh đa u tủy, và khoảng 3% người da trắng trên 50 tuổi mắc bệnh này, 27 trong khi tỉ lệ này ở người Mỹ gốc Phi có thể cao gấp đôi. 28

MGUS không gây ra triệu chứng gì. Bạn sẽ không biết bạn mắc bệnh trừ khi bác sĩ tình cờ phát hiện ra nó trong khi xét nghiệm máu. Cơ hội mà MGUS trở thành u tủy là khoảng 1 % mỗi năm, có nghĩa là hầu hết người mắc MGUS có thể chết vì các nguyên nhân khác trước khi bệnh phát triển thành u tủy. 29

Tuy nhiên, vì đa u tủy về cơ bản chính là một án tử hình, các nhà khoa học đã luôn cố gắng một cách tuyệt vọng để tìm cách ngăn chặn MGUS phát triển.

Với tính an toàn và hiệu quả của hợp chất curcumin trong gia vị nghệ tây đối với các loại tế bào ung thư khác, các nhà nghiên cứu từ Đại học Texas đã thu thập tế bào đa u tủy và đưa chúng vào một đĩa petri.

Nếu không có bất kỳ sự can thiệp nào, các tế bào ung thư sẽ tăng gấp bốn lần trong vòng vài ngày – bệnh ung thư có thể phát triển nhanh như thế đó! Nhưng khi thêm một ít curcumin vào, sự tăng trưởng tế bào đa u tủy bị chậm lại hoặc ngừng hoàn toàn. 30

Như chúng ta đã khám phá, việc chặn đứng ung thư trong phòng thí nghiệm là một chuyện. Còn trên người thì sao? Trong năm 2009, một nghiên cứu thí điểm cho thấy một nửa (5 trên 10 người) số đối tượng mắc MGUS có mức kháng thể cao bất thường có phản ứng tích cực với thuốc bổ sung curcumin.

Không có ai (0 trong 9 người) trong số những người được cho dùng giả dược giảm được lượng kháng thể ở mức tương tự. 31 Từ thành công của thí nghiệm này, các nhà khoa học đã tiến hành một thử nghiệm “mù” ngẫu nhiên, giả dược và đã đạt được những kết quả tương tự đầy tiềm năng cho cả bệnh nhân mắc MGUS và những người “ủ bệnh” đa u tủy, giai đoạn trước của bệnh này. 32

Kết quả này cho thấy một loại gia vị đơn giản được tìm thấy trong cửa hàng tạp hoá có thể có khả năng làm chậm hoặc ngăn chặn được căn bệnh ung thư khủng khiếp này với một tỉ lệ bệnh nhân nhất định, mặc dù chúng ta không thể biết nhiều hơn cho đến khi những nghiên cứu dài hơn được thực hiện để xem liệu những thay đổi đầy hy vọng trong các thử nghiệm máu có thể chuyển thành tác động tương tự lên bệnh nhân hay không.

Trong khi chờ đợi, sẽ không có hại gì hết khi bạn sử dụng gia vị này vào các món ăn của mình.

LIỆU CÁC LOẠI VIRUT TỪ ĐỘNG VẬT CÓ LIÊN QUAN GÌ ĐẾN UNG THƯ MÁU Ở NGƯỜI KHÔNG?

Lý do mà những người có chế độ ăn dựa chủ yếu vào thực phẩm thực vật lại có tỷ lệ ung thư máu thấp hơn33 có thể chính là do loại thực phẩm họ ăn và / hoặc tránh ăn. Để chứng minh vai trò của các sản phẩm từ động vật khác nhau trong vô số căn bệnh ung thư máu, chúng ta cần tiến hành một nghiên cứu cực lớn.

Và nghiên cứu EPIC – Nghiên cứu Điều tra Châu Âu về Ung thư và Dinh dưỡng, đã làm điều đó. Các nhà nghiên cứu đã tuyển dụng hơn 400.000 nam giới và phụ nữ trên mười quốc gia và theo dõi họ trong khoảng 9 năm.

Kết quả cho thấy, thì việc tiêu thụ thường xuyên thịt gà dẫn đến tăng nguy cơ ung thư tuyến tụy. Người ta cũng thấy kết quả tương tự đối với ung thư máu. Trong tất cả các sản phẩm động vật được nghiên cứu (bao gồm cả nội tạng), gia cầm có khuynh hướng tăng nguy cơ mắc ung thư hạch không Hodgkin, ung thư nang lyphoma và u lymphô tế bào B, như bệnh bạch cầu mãn tính của tế bào B. 34

Nghiên cứu EPIC cho thấy nguy cơ tăng trong khoảng từ 56% đến 280% đối với mỗi 50 gram gia cầm tiêu thụ hàng ngày (ức gà nấu chín, không xương có thể cân nặng đến 384 gam). 35

Tại sao nguy cơ ung thư hạch bạch huyết và bạch cầu lại tăng nhanh dù chỉ ăn một lượng nhỏ gia cầm như vậy? Các nhà nghiên cứu gợi ý rằng kết quả này có thể là do sán, hoặc do các loại thuốc, như kháng sinh, thường được sử dụng để cho gà và gà tây ăn để thúc đẩy tăng trưởng.

Hoặc nguyên nhân có thể là chất dioxin tìm thấy trong một số loại thịt gia cầm, chất này có thể dẫn đến ung thư hạch bạch huyết. 36Tuy nhiên sữa cũng có chứa dioxins và uống sữa không gây NHL. Các nhà nghiên cứu đã phỏng đoán về các loại virut gây ung thư ở gia cầm, vì vậy nguy cơ mắc NHL sẽ thấp hơn khi ăn thịt nấu chín (do không kích hoạt bất kỳ virút nào) thay vì thịt nấu tái. 37

Đề xuất này phù hợp với kết quả của nghiên cứu NIH-AARP cho thấy mối liên hệ giữa ăn gà nấu vừa tới với một loại ung thư bạch huyết và nguy cơ bị ung thư máu thấp hơn khi tiếp xúc nhiều hơn với chất gây ung thư trong thịt đã nấu chín – chất MeIQx. 38

Tại sao tỉ lệ ung thư lại thấp hơn khi tiếp xúc nhiều hơn với chất gây ung thư? MeIQx là một trong những amin dị vòng được tạo ra bằng cách nấu thịt ở nhiệt độ cao, như nướng, rán, và chiên. 39

Trong trường hợp ung thư máu, một nguyên nhân là virut gia cầm, nên thịt càng nấu chín thì virut càng bị tiêu diệt nhiều. Virus gây ung thư từ gia cầm – bao gồm cả virut herpe gây bệnh Marek, một số virut retro như virut reticuloendotheliosis, virut bạch cầu ở gà và virut gây bệnh lymphoproliferative ở gà tây – có thể giải thích tỷ lệ ung thư máu cao hơn ở nông dân, 40 người làm nghề giết mổ 41 và bán thịt. 42  Virut có thể gây ung thư bằng cách trực tiếp đẩy một gen gây ung thư vào ADN của cơ thể. 43

Virut động vật có thể khiến những người chế biến thịt gặp các chứng bệnh ngoài da khó chịu, chẳng hạn như bệnh viêm da mụn lây lan. 44 Thậm chí có căn bệnh được định nghĩa rõ ràng là “mụn cóc đồ tể” (“butchers’ warts”) ảnh hưởng đến tay những người làm công việc xử lý thịt tươi, gồm thịt gà và cá. 45 Ngay cả vợ của những người bán thịt cũng có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao hơn, một loại ung thư do tiếp xúc với virut gây mụn cóc. 46

Người lao động trong các lò giết mổ gia cầm cho thấy có tỷ lệ ung thư miệng, khoang mũi, họng, thực quản, trực tràng, gan và máu cao hơn. Trên mức độ y tế công cộng, mối quan tâm ở đây là các virut gây ung thư có trong gia cầm và các sản phẩm gia cầm sau đó có thể lây sang những người xử lý hoặc ăn thịt gia cầm chưa nấu chín. 47

Gần đây, các kết quả này đã được nhân rộng trong các điều tra quy mô lớn nhất cho đến nay, nghiên cứu hơn 20.000 công nhân trong các lò giết mổ và chế biến gia cầm. Họ xác nhận kết quả của ba nghiên cứu khác cho đến nay: Người lao động trong các cơ sở này có nguy cơ tử vong do một số bệnh ung thư nhất định, bao gồm cả ung thư máu. 48

Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu kết nối các dữ kiện với nhau. Trong cơ thể các công nhân giết mổ gia cầm có kháng thể mức độ cao với virut bệnh avian leukosis/sarcoma 49 và với virut reticuloendotheliosis50 , điều này đã cung cấp bằng chứng về việc tiếp xúc của con người với những vi-rút gia cầm gây ung thư.

Ngay cả những công nhân băng chuyền chỉ làm công việc cắt thành phẩm cuối cùng và không tiếp xúc với gia cầm sống vẫn có lượng kháng thể cao trong máu. 51 Hơn cả vấn đề về an toàn lao động, các nhà nghiên cứu kết luận đây là mối đe dọa tiềm tàng đối với người dân và thực sự “đáng quan ngại.” 52

Tỷ lệ ung thư máu cao thậm chí có thể được tìm thấy ngay từ các trang trại. Một phân tích tổng hợp hơn 100.000 người tử vong cho thấy những người lớn lên ở trang trại nuôi gia súc có khả năng phát triển ung thư máu trong giai đoạn sau của cuộc đời, trong khi đó, lớn lên tại một trang trại chỉ trồng trọt thì không gặp tình trạng này. Trường hợp tệ nhất là những người sinh sống ở trang trại gia cầm, dẫn đến tỷ lệ phát triển bệnh ung thư máu cao gần gấp ba lần. 53

Việc tiếp xúc với gia súc và lợn cũng dẫn đến ung thư hạch không Hodgkin. 54 Một nghiên cứu năm 2003 của các nhà nghiên cứu thuộc Đại học California đã cho thấy gần ba phần tư số đối tượng thử nghiệm dương tính với virut bạch cầu ở bò, có thể là do thông qua tiêu thụ thịt và các sản phẩm từ sữa. 55 Khoảng 85% số bò sữa ở Mỹ đã kiểm tra dương tính với loại virut này (và con số là 100% đối với các hoạt động ở quy mô công nghiệp) . 56

Tìm hiểu thêm bài viết: Sự thật gây sốc: Tiền mua sữa là tiền tiêu hoang

Tuy nhiên, chỉ tiếp xúc với một loại virut gây ung thư ở bò không có nghĩa là con người cũng có thể bị nhiễm bệnh. Vào năm 2014, các nhà nghiên cứu được tài trợ một phần bởi Chương trình Nghiên cứu Ung thư vú của Quân đội Mỹ đã xuất bản một báo cáo đáng chú ý trong một tạp chí của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (Hoa Kỳ).

Họ đã báo cáo rằng DNA của virut bạch cầu bò được phát hiện là có khả năng kết hợp với mô ngực bình thường và mô ung thư vú ở người, chứng minh một cách thuyết phục rằng con người cũng có thể bị nhiễm loại virut gây bệnh ung thư ở động vật này. 57 Dù vậy, cho đến nay, vai trò của virut gia cầm và các động vật nuôi khác trong sự phát triển bệnh ung thư ở người vẫn còn chưa được chứng minh rõ ràng.

Còn virut bệnh bạch cầu ở mèo thì sao? Thật may mắn, mối quan hệ khăng khít với vật nuôi dẫn đến tỷ lệ ung thư hạch bạch huyết thấp hơn, điều này giúp tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn khi đã chia sẻ cuộc sống của mình với rất nhiều vật nuôi.

Và càng nuôi chó mèo lâu, nguy cơ mắc bệnh càng thấp. Trong một nghiên cứu, những người nuôi thú cưng trong 20 năm hoặc lâu hơn có nguy cơ mắc bệnh bạch huyết thấp nhất. Các nhà nghiên cứu nghi ngờ nguyên nhân là do nuôi thú cưng có thể có những tác động có lợi lên hệ miễn dịch. 58

Một nghiên cứu của Đại học Harvard đã chỉ ra rằng việc tiêu thụ soda có thể làm tăng nguy cơ ung thư hạch không Hodgkin và bệnh đa u tủy xương, 59 nhưng mối liên hệ này chỉ được chứng minh ở nam giới và kết quả này không được khẳng định trong hai nghiên cứu lớn khác về soda có đường aspartam. 60,61

Dù nói vậy, nhưng bạn cũng nên loại bỏ soda, và việc này sẽ dẫn đến các thay đổi về ăn uống đã được nêu trên.

Chế độ ăn thực vật có thể giảm một nửa nguy cơ mắc ung thư máu, và khả năng bảo vệ này có thể là do tránh ăn những thực phẩm gây ra các khối u lỏng, như gia cầm, và đồng thời tiêu thụ nhiều trái cây và rau củ.

Rau lá xanh có thể đặc biệt hữu ích đối với bệnh ung thư hạch không Hodgkin và củ nghệ có tác động tích cực đến bệnh đa u tủy xương. Virut gia súc tạo khối u đóng vai trò gì trong các loại ung thư ở người còn chưa được chứng minh, tuy nhiên điều này cần được ưu tiên nghiên cứu do mức độ phơi nhiễm của các loại virut này với người dân hiện nay.

Michael Greger, M.D.,

Hãy cho chúng tôi biết suy nghĩ của bạn về bài viết này thông qua việc để lại comment ở dưới đây. Nếu bạn thấy bài viết hữu ích hãy like và share ngay nhé.

Danh mục tài liệu tham khảo từ các công trình nghiên cứu, bằng chứng khoa học:

1. Hunger SP, Lu X, Devidas M, et al. Improved survival for children and adolescents with acute lymphoblastic leukemia between 1990 and 2005: a report from the children’s oncology group. J Clin Oncol. 2012;30(14):1663–9.

2. National Cancer Institute Surveillance, Epidemiology, and End Results Program. SEER Stat Fact Sheets: Leukemia. http://seer.cancer.gov/statfacts/html/leuks.html. Accessed June 15, 2015.

3. American Cancer Society. Cancer Facts & Figures 2014. Atlanta: American Cancer Society; 2014.

4. American Cancer Society. Cancer Facts & Figures 2014. Atlanta: American Cancer Society; 2014.

5. American Cancer Society. Cancer Facts & Figures 2014. Atlanta: American Cancer Society; 2014.

6. Key TJ, Appleby PN, Spencer EA, et al. Cancer incidence in British vegetarians. Br J Cancer. 2009;101(1):192–7.

7. Vegetarians less likely to develop cancer than meat eaters [news release]. London, UK: British Journal of Cancer; July 1, 2009. http://www.nature.com/bjc/press_releases/p_r_jul09_6605098.html. Accessed March 11, 2015.

8. Suppipat K, Park CS, Shen Y, Zhu X, Lacorazza HD. Sulforaphane induces cell cycle arrest and apoptosis in acute lymphoblastic leukemia cells. PLoS One. 2012;7(12):e51251.

9. Han X, Zheng T, Foss F, et al. Vegetable and fruit intake and non-Hodgkin lymphoma survival in Connecticut women. Leuk Lymphoma. 2010;51(6):1047–54.

10. Thompson CA, Cerhan JR. Fruit and vegetable intake and survival from non-Hodgkin lymphoma: does an apple a day keep the doctor away? Leuk Lymphoma. 2010;51(6):963–4.

11. Thompson CA, Habermann TM, Wang AH, et al. Antioxidant intake from fruits, vegetables and other sources and risk of non-Hodgkin’s lymphoma: the Iowa Women’s Health Study. Int J Cancer. 2010;126(4):992–1003.

12. Holtan SG, O’Connor HM, Fredericksen ZS, et al. Food-frequency questionnaire-based estimates of total antioxidant capacity and risk of non-Hodgkin lymphoma. Int J Cancer. 2012;131(5):1158–68.

13. Holtan SG, O’Connor HM, Fredericksen ZS, et al. Food-frequency questionnaire-based estimates of total antioxidant capacity and risk of non-Hodgkin lymphoma. Int J Cancer. 2012;131(5):1158–68.

14. Thompson CA, Habermann TM, Wang AH, et al. Antioxidant intake from fruits, vegetables and other sources and risk of non-Hodgkin’s lymphoma: the Iowa Women’s Health Study. Int J Cancer. 2010;126(4):992–1003.

15. Bjelakovic G, Nikolova D, Simonetti RG, Gluud C. Antioxidant supplements for prevention of gastrointestinal cancers: a systematic review and meta-analysis. Lancet. 2004;364(9441):1219–28.

16. Jacobs DR, Tapsell LC. Food synergy: the key to a healthy diet. Proc Nutr Soc. 2013;72(2):200–6.

17. Elsayed RK, Glisson JK, Minor DS. Rhabdomyolysis associated with the use of a mislabeled “acai berry” dietary supplement. Am J Med Sci. 2011;342(6):535–8.

18. Zhang Y, Wang D, Lee RP, Henning SM, Heber D. Absence of pomegranate ellagitannins in the majority of commercial pomegranate extracts: implications for standardization and quality control. J Agric Food Chem. 2009;57(16):7395–400.

19. Zhang Y, Krueger D, Durst R, et al. International multidimensional authenticity specification (IMAS) algorithm for detection of commercial pomegranate juice adulteration. J Agric Food Chem. 2009;57(6):2550–7.

20. Del Pozo-Insfran D, Percival SS, Talcott ST. Açai (Euterpe oleracea Mart.) polyphenolics in their glycoside and aglycone forms induce apoptosis of HL-60 leukemia cells. J Agric Food Chem. 2006;54(4):1222–9.

21. Schauss AG, Wu X, Prior RL, et al. Antioxidant capacity and other bioactivities of the freeze-dried Amazonian palm berry, Euterpe oleraceae mart. (aSch). J Agric Food Chem. 2006;54(22):8604–10.

22. Jensen GS, Ager DM, Redman KA, Mitzner MA, Benson KF, Schauss AG. Pain reduction and improvement in range of motion after daily consumption of an açai (Euterpe oleracea Mart.) pulp-fortified polyphenolic-rich fruit and berry juice blend. J Med Food. 2011;14(7–8):702–11.

23. Udani JK, Singh BB, Singh VJ, Barrett ML. Effects of açai (Euterpe oleracea Mart.) berry preparation on metabolic parameters in a healthy overweight population: a pilot study. Nutr J. 2011;10:45.

24. Haytowitz DB, Bhagwat SA. USDA database for the oxygen radical capacity (ORAC) of selected foods, release 2. Washington, D.C.: United States Department of Agriculture; 2010.

25. American Cancer Society. Cancer Facts & Figures 2014. Atlanta: American Cancer Society; 2014.

26. Landgren O, Kyle RA, Pfeiffer RM, et al. Monoclonal gammopathy of undetermined significance (MGUS) consistently precedes multiple myeloma: a prospective study. Blood. 2009;113(22):5412–7.

27. Landgren O, Kyle RA, Pfeiffer RM, et al. Monoclonal gammopathy of undetermined significance (MGUS) consistently precedes multiple myeloma: a prospective study. Blood. 2009;113(22):5412–7.

28. Greenberg AJ, Vachon CM, Rajkumar SV. Disparities in the prevalence, pathogenesis and progression of monoclonal gammopathy of undetermined significance and multiple myeloma between blacks and whites. Leukemia. 2012;26(4):609–14.

29. Kyle RA, Therneau TM, Rajkumar SV, et al. A long-term study of prognosis in monoclonal gammopathy of undetermined significance. N Engl J Med. 2002;346(8):564–9.

30. Bharti AC, Donato N, Singh S, Aggarwal BB. Curcumin (diferuloylmethane) down-regulates the constitutive activation of nuclear factor-kappa B and IkappaBalpha kinase in human multiple myeloma cells, leading to suppression of proliferation and induction of apoptosis. Blood. 2003;101(3):1053–62.

31. Golombick T, Diamond TH, Badmaev V, Manoharan A, Ramakrishna R. The potential role of curcumin in patients with monoclonal gammopathy of undefined significance—its effect on paraproteinemia and the urinary N-telopeptide of type I collagen bone turnover marker. Clin Cancer Res. 2009;15(18):5917–22.

32. Golombick T, Diamond TH, Manoharan A, Ramakrishna R. Monoclonal gammopathy of undetermined significance, smoldering multiple myeloma, and curcumin: a randomized, double-blind placebo-controlled cross-over 4g study and an open-label 8g extension study. Am J Hematol. 2012;87(5):455–60.

33. Key TJ, Appleby PN, Spencer EA, et al. Cancer incidence in British vegetarians. Br J Cancer. 2009;101(1):192–7.

34. Rohrmann S, Linseisen J, Jakobsen MU, et al. Consumption of meat and dairy and lymphoma risk in the European Prospective Investigation into Cancer and Nutrition. Int J Cancer. 2011;128(3):623–34.

35. U.S. Department of Agriculture Agricultural Research Service. National Nutrient Database for Standard Reference Release 27. Basic Report: 05358, Chicken, broiler, rotisserie, BBQ, breast meat and skin. http://ndb.nal.usda.gov/ndb/foods/show/1058. Accessed March 2, 2015.

36. Rohrmann S, Linseisen J, Jakobsen MU, et al. Consumption of meat and dairy and lymphoma risk in the European Prospective Investigation into Cancer and Nutrition. Int J Cancer. 2011;128(3):623–34.

37. Chiu BC, Cerhan JR, Folsom AR, et al. Diet and risk of non-Hodgkin lymphoma in older women. JAMA. 1996;275(17):1315–21.

38. Daniel CR, Sinha R, Park Y, et al. Meat intake is not associated with risk of non-Hodgkin lymphoma in a large prospective cohort of U.S. men and women. J Nutr. 2012;142(6):1074–80.

39. Puangsombat K, Gadgil P, Houser TA, Hunt MC, Smith JS. Occurrence of heterocyclic amines in cooked meat products. Meat Sci. 2012;90(3):739–46.

40. ’t Mannetje A, Eng A, Pearce N. Farming, growing up on a farm, and haematological cancer mortality. Occup Environ Med. 2012;69(2):126–32.

41. Johnson ES, Zhou Y, Yau LC, et al. Mortality from malignant diseases-update of the Baltimore union poultry cohort. Cancer Causes Control. 2010;21(2):215–21.

42. Neasham D, Sifi A, Nielsen KR, et al. Occupation and risk of lymphoma: a multicentre prospective cohort study (EPIC). Occup Environ Med. 2011;68(1):77–81.

43. Kalland KH, Ke XS, Øyan AM. Tumour virology—history, status and future challenges. APMIS. 2009;117(5–6):382–99.

44. Centers for Disease Control and Prevention. Human Orf virus infection from household exposures—United States, 2009–2011. MMWR Morb Mortal Wkly Rep. 2012;61(14):245–8.

45. Benton EC. Warts in butchers—a cause for concern? Lancet. 1994;343(8906):1114.

46. Gubéran, Usel M, Raymond L, Fioretta G. Mortality and incidence of cancer among a cohort of self employed butchers from Geneva and their wives. Br J Ind Med. 1993;50(11):1008–16.

47. Johnson ES, Zhou Y, Yau LC, et al. Mortality from malignant diseases-update of the Baltimore union poultry cohort. Cancer Causes Control. 2010;21(2):215–21.

48. Johnson ES, Ndetan H, Lo KM. Cancer mortality in poultry slaughtering/processing plant workers belonging to a union pension fund. Environ Res. 2010;110(6):588–94.

49. Choi KM, Johnson ES. Occupational exposure assessment using antibody levels: exposure to avian leukosis/sarcoma viruses in the poultry industry. Int J Environ Health Res. 2011;21(4):306–16.

50. Choi KM, Johnson ES. Industrial hygiene assessment of reticuloendotheliosis viruses exposure in the poultry industry. Int Arch Occup Environ Health. 2011;84(4):375–82.

51. Choi KM, Johnson ES. Industrial hygiene assessment of reticuloendotheliosis viruses exposure in the poultry industry. Int Arch Occup Environ Health. 2011;84(4):375–82.

52. Johnson ES, Ndetan H, Lo KM. Cancer mortality in poultry slaughtering/processing plant workers belonging to a union pension fund. Environ Res. 2010;110(6):588–94.

53. ’t Mannetje A, Eng A, Pearce N. Farming, growing up on a farm, and haematological cancer mortality. Occup Environ Med. 2012;69(2):126–32.

54. Tranah GJ, Bracci PM, Holly EA. Domestic and farm-animal exposures and risk of non-Hodgkin’s lymphoma in a population-based study in the San Francisco Bay Area. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev. 2008;17(9):2382–7.

55. Buehring GC, Philpott SM, Choi KY. Humans have antibodies reactive with Bovine leukemia virus. AIDS Res Hum Retroviruses. 2003;19(12):1105–13.

56. U.S. Department of Agriculture Animal and Plant Health Inspection Service. Bovine Leukosis Virus (BLV) on U.S. Dairy Operations, 2007. http://www.aphis.usda.gov/animal_health/nahms/dairy/downloads/dairy07/Dairy07_is_BLV.pdf. October 2008. Accessed March 2, 2015.

57. Buehring GC, Shen HM, Jensen HM, Choi KY, Sun D, Nuovo G. Bovine leukemia virus DNA in human breast tissue. Emerging Infect Dis. 2014;20(5):772–82.

58. Tranah GJ, Bracci PM, Holly EA. Domestic and farm-animal exposures and risk of non-Hodgkin’s lymphoma in a population-based study in the San Francisco Bay Area. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev. 2008;17(9):2382–7.

59. Schernhammer ES, Bertrand KA, Birmann BM, Sampson L, Willett WC, Feskanich D. Consumption of artificial sweetener- and sugar-containing soda and risk of lymphoma and leukemia in men and women. Am J Clin Nutr. 2012;96(6):1419–28.

60. Lim U, Subar AF, Mouw T, et al. Consumption of aspartame-containing beverages and incidence of hematopoietic and brain malignancies. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev. 2006;15(9):1654–9.

61. McCullough ML, Teras LR, Shah R, Diver WR, Gaudet MM, Gapstur SM. Artificially and sugar-sweetened carbonated beverage consumption is not associated with risk of lymphoid neoplasms in older men and women. J Nutr. 2014;144(12):2041–9.