Ăn Gì Để Không Chết Vì Các Bệnh Liên Quan Đến Gan?

Ăn Gì Để Không Chết Vì Các Bệnh Liên Quan Đến Gan?
4.71 (94.29%) 7 votes

Caroty.com trân trọng gửi đến bạn bài viết: Ăn Gì Để Không Chết Vì Các Bệnh Liên Quan Đến Gan?

Bạn vẫn sống nhăn răng chỉ với một quả thận. Bạn có thể tồn tại mà không có lá lách hoặc túi mật. Thậm chí bạn vẫn có thể sống khi không có dạ dày. Nhưng bạn không thể sống mà không có gan, cơ quan nội tạng lớn nhất trong cơ thể.

Chính xác thì gan có chức năng gì? Cơ quan sống còn này đảm nhiệm đến hơn 500 chức năng khác nhau. 1 Trước tiên phải kể đến vai trò của một người bảo vệ, đảm bảo rằng các “vị khách không mời” (các chất độc hại) tránh xa khỏi dòng máu của bạn.

Mọi thứ bạn hấp thụ qua đường tiêu hóa không được lưu thông ngay lập tức trong cơ thể. Đầu tiên, máu từ ruột đi thẳng vào gan, nơi các chất dinh dưỡng được chuyển hóa đồng thời là nơi các chất độc bị gan vô hiệu hóa. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi những gì bạn ăn thực sự đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề sức khỏe của gan.

Khoảng 60.000 người Mỹ chết vì bệnh gan mỗi năm, và tỷ lệ tử vong này lại tăng lên mỗi năm trong vòng 5 năm qua. 2 Riêng tần suất ung thư gan đã tăng lên khoảng 4% mỗi năm trong thập niên vừa qua. 3

Các bệnh rối loạn chức năng gan có thể là do di truyền, như bệnh quá tải sắt (hemochromatosis), cũng có thể do các bệnh nhiễm trùng dẫn đến ung thư gan, hoặc có thể xuất phát từ việc sử dụng các loại thuốc Tylenol quá liều (vô tình hay chủ ý). 4

Tuy nhiên, nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh lại là do thức ăn và đồ uống: bệnh gan do rượu và bệnh gan nhiễm mỡ.

BỆNH GAN DO RƯỢU BIA

Theo một loạt các bài viết nổi tiếng trong Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ có tên “Nguyên nhân thực sự gây tử vong ở Mỹ” thì kẻ giết người hàng đầu tại Mỹ trong năm 2000 là thuốc lá, theo sau đó là chế độ ăn uống và lười vận động.

Vậy đứng thứ ba trong danh sách này là gì? Chính là rượu bia. 5 Khoảng một nửa số người chết vì rượu bia là do các nguyên nhân đột ngột như tai nạn xe; một nửa còn lại thì đón nhận cái chết chậm hơn, và nguyên nhân hàng đầu là các bệnh về gan do rượu bia. 6

Uống nhiều rượu bia có thể dẫn đến sự tích tụ chất béo trong gan (còn được gọi là gan nhiễm mỡ), có thể gây ra sưng viêm, kết quả là sẹo trong gan, và cuối cùng là suy gan.

Trung tâm phòng chống dịch bệnh Hoa Kỳ CDC định nghĩa: uống quá mức là việc tiêu thụ rượu bia thường xuyên với tần suất hơn một lần mỗi ngày cho phụ nữ và hơn hai lần một ngày đối với nam giới.

Một lần uống được định nghĩa là 355 ml bia, 237 ml rượu mạch nha, 148 ml rượu vang, hoặc 44 ml (1 “chén”) rượu mạnh. 7 Sự tiến triển của bệnh có thể được dừng lại nếu ngừng uống, nhưng đôi khi đã là quá muộn để có thể thay đổi được điều gì. 8

Uống quá nhiều rượu bia có thể gây ra gan nhiễm mỡ trong vòng chưa đến 3 tuần, 9 nhưng tình trạng này có thể được giải quyết trong vòng 4 đến 6 tuần sau khi ngừng uống. 10 Nhưng trong 5 đến 15 % các trường hợp, bệnh này tiếp tục tiến triển, và gan bắt đầu xuất hiện sẹo kể cả khi bạn cai rượu. 11

Tương tự, một khi bệnh viêm gan do rượu (viêm gan) được chẩn đoán, tỉ lệ sống sót trong 3 năm tiếp theo có thể lên tới 90% đối với những người ngừng uống rượu sau khi chẩn đoán. 12 Nhưng đến 18 % số bệnh nhân đã bị chai gan, một vết sẹo không thể chữa trị được. 13

Cách tốt nhất để tránh bệnh gan do rượu là không uống quá nhiều ngay từ đầu. Nhưng nếu bạn đã uống quá nhiều, vẫn còn những biện pháp chữa trị khác.

Mặc dù hầu hết những người uống nhiều bia rượu không hẳn là những người nghiện rượu bia, 14  nhưng có bằng chứng thuyết phục đã chỉ ra rằng một số các chương trình giúp cai nghiện rượu bia (ví dụ như AA-Alcoholics Anonymous) có thể sẽ có hiệu quả đối với những người bị phụ thuộc vào rượu bia và chất có cồn. 15

Uống bia rượu với lượng vừa phải có lợi không?

Mọi người đều đồng ý rằng uống rượu mạnh, uống trong thời gian mang thai, và chè chén thâu đêm suốt sáng đều có hại nhưng nếu uống “vừa phải” thì sao?

Phải nói rằng, những người uống quá nhiều đã tự rút ngắn tuổi thọ của mình, tuy nhiên những người kiêng hẳn rượu bia cũng có thể đang rút ngắn tuổi thọ của bản thân họ. 16

Hút thuốc lá đã là không tốt và nghiện hút thuốc thì còn tệ hơn, tuy nhiên, logic đó không thể áp dụng được với việc uống rượu bia.

Trên thực tế, uống một ít rượu dường như có tác động tích cực lên tỷ lệ tử vong nói chung. Nhưng điều này có vẻ như chỉ đúng với những người không quan tâm đến sức khỏe bản thân. 17

Uống vừa phải có thể bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tim, có lẽ vì hiệu quả làm loãng máu, 18nhưng vấn đề là uống một chút lại được chứng minh làm tăng nguy cơ ung thư.

Tại sao một thứ làm tăng nguy cơ ung thư lại giúp kéo dài cuộc sống? Ung thư “chỉ” là kẻ giết người đứng ở vị trí số hai mà thôi. Vì bệnh tim mới là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong, điều này giải thích tại sao những người uống vừa phải vẫn có thể sống lâu hơn những người kiêng rượu.

Nhưng lợi thế này có thể chỉ giới hạn trong những người có thói quen sống không lành mạnh. 19

Để tìm ra ai có thể hưởng lợi từ việc uống rượu vừa phải, các nhà nghiên cứu đã tuyển gần 10.000 nam giới và phụ nữ và theo dõi những người này trong 17 năm sau khi đánh giá thói quen uống rượu bia và cách sống của họ.

Các kết quả đã được công bố trong một bài báo có tiêu đề “Ai được lợi nhiều nhất từ ​​các đặc tính bảo vệ tim mạch của việc uống rượu – những người sống lành mạnh hay những kẻ lười biếng nằm dài?”

Vậy điều gì sẽ làm nên “người sống lành mạnh”? Theo định nghĩa của các nhà nghiên cứu, đó là bất cứ ai tập thể dục 30 phút mỗi ngày, không hút thuốc, và ăn ít nhất một phần trái cây hoặc rau mỗi ngày. 20

Một đến hai lần uống mỗi ngày làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim cho “những kẻ lười biếng”, những người có lối sống không lành mạnh. Nhưng những người có thói quen tập thể dục (dù là tập một chút mỗi ngày) lại không nhận được ích lợi gì từ việc uống rượu bia.

Bài học rút ra là: Nho, lúa mạch, và khoai tây tốt nhất là nên được sử dụng khi chưa qua chưng cất, và những chai rượu Johnnie Walker không thể thay thế cho việc đi bộ thực tế của bạn đâu.

BỆNH GAN NHIỄM MỠ KHÔNG DO RƯỢU (NAFLD)

Nguyên nhân phổ biến nhất của gan nhiễm mỡ không phải là rượu mà là bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD – nonalcoholic fatty liver disease). Bạn có thể nhớ đến bộ phim tài liệu bom tấn Super Size Me, trong đó đạo diễn phim, Morgan Spurlock, đã ăn duy nhất thức ăn nhanh của McDonald’s trong một tháng.

Đúng như dự đoán, cân nặng, huyết áp và cholesterol của Spurlock đã tăng lên – và men gan của ông cũng vậy. Đó là một dấu hiệu cho thấy tế bào gan của ông đang chết dần và tràn vào trong mạch máu.

Chế độ ăn uống của ông gây tổn hại đến gan như thế nào? Nói theo một cách dễ hiểu: Ông đã tự biến gan của mình thành gan ngỗng – foie gras (món pate gan mỡ).

Một số nhà phê bình đã cho rằng cuốn phim chỉ mang tính giật gân quá mức, nhưng các nhà nghiên cứu ở Thụy Điển đã chính thức nhân rộng thử nghiệm của Spurlock một cách nghiêm túc.

Trong nghiên cứu của họ, một nhóm đàn ông và phụ nữ đồng ý ăn 2 bữa ăn nhanh mỗi ngày. Khi bắt đầu, mức men gan của họ là bình thường, nhưng chỉ sau một tuần với chế độ ăn uống như vậy, kết quả xét nghiệm chức năng gan của hơn 75% các tình nguyện viên đã trở thành bệnh lý. 21

Nếu một chế độ ăn uống không lành mạnh có thể gây tổn thương gan chỉ trong vòng 7 ngày, thì không có gì ngạc nhiên khi NAFLD đã lặng lẽ trở thành nguyên nhân phổ biến nhất gây ra bệnh gan mãn tính ở Mỹ, gây ảnh hưởng cho khoảng 70 triệu người. 22

Điều này tương đương với cứ 3 người lớn là có một người mắc. Gần như 100 % những người bị béo phì nghiêm trọng đều bị ảnh hưởng. 23

Giống như gan nhiễm mỡ do rượu, NAFLD bắt đầu với sự tích tụ mỡ trong gan, và việc này không gây triệu chứng gì đáng kể. Trong một vài trường hợp hiếm hoi, bệnh này có thể tiến triển thành sưng viêm, và qua nhiều năm kết sẹo trong gan thành trạng thái chai gan, dẫn đến ung thư gan, suy gan, và thậm chí là tử vong 24

Thức ăn nhanh rất hiệu quả trong việc kích động căn bệnh vì NAFLD là bệnh có liên quan đến việc ăn thịt và uống các loại nước giải khát. Chỉ một lon soda mỗi ngày có thể làm tăng tỷ lệ mắc bệnh gan nhiễm mỡ lên đến 45%. 25

Trong khi đó, những người ăn thịt mỗi ngày tương đương với 14 viên thịt gà hoặc nhiều hơn có tỷ lệ mắc bệnh gan nhiễm mỡ cao gấp 3 lần so với người chỉ ăn 7 viên thịt gà hoặc ít hơn. 26

NAFLD là bệnh được biểu thị bởi “chất béo và đường” 27 nhưng không phải tất cả chất béo đều ảnh hưởng đến gan theo cách tương tự nhau. Những người bị viêm gan nhiễm mỡ được chứng minh là do tiêu thụ nhiều chất béo động vật (và cholesterol) nhưng ăn ít chất béo thực vật (và chất xơ và chất chống oxy hoá). 28

Điều này có thể giải thích tại sao tuân thủ chế độ ăn uống kiểu Địa Trung Hải với nhiều trái cây, rau quả, ngũ cốc nguyên hạt và đậu có thể làm cho bệnh gan nhiễm mỡ ít nghiêm trọng hơn mặc dù chế độ ăn này thường không phải là chế độ ăn ít chất béo. 29

Quá tải cholesterol cũng có thể gây ra NAFLD. 30 Cholesterol trong máu từ trứng, thịt, và sữa có thể bị oxy hóa và sau đó gây một phản ứng dây chuyền dẫn đến chất béo dư thừa trong gan. 31

Khi nồng độ cholesterol trong tế bào gan quá cao, nó có thể kết tinh thành dạng giống như kẹo cứng và gây viêm. Quá trình này tương tự như cách các tinh thể axit uric gây ra bệnh gout. 32

Khi đó, các tế bào bạch cầu của bạn cố gắng hấp thụ các tinh thể cholesterol nhưng lại bị chết trong quá trình này và sinh ra các hợp chất gây viêm. Điều này có thể giải thích các ca bệnh gan lành tính có thể chuyển thành viêm gan nặng như thế nào. 33

Để khám phá mối quan hệ giữa chế độ ăn uống và các bệnh gan nghiêm trọng, khoảng 9000 người Mỹ trưởng thành đã được nghiên cứu trong vòng 13 năm. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng phát hiện quan trọng nhất của họ có thể là: mức tiêu thụ cholesterol là một yếu tố mật thiết có thể tiên đoán chai gan và ung thư gan.

Những người tiêu thụ lượng cholesterol có trong hai chiếc bánh trứng McMuffins34 hoặc nhiều hơn trong một ngày có nguy cơ phải nhập viện hoặc tử vong cao gấp đôi. 35

Cách tốt nhất để tránh NAFLD, nguyên nhân gây ra bệnh gan phổ biến nhất là tránh tiêu thụ quá nhiều calo, cholesterol, chất béo bão hòa và đường.

VIÊM GAN DO VIRUT

Một nguyên nhân phổ biến khác của bệnh gan là viêm gan virut, gây ra bởi một hoặc nhiều loại virut khác nhau: viêm gan A, B, C, D, hoặc E. Phương pháp truyền và tiên lượng là khác nhau đối với mỗi loại virut kể trên.

Viêm gan A lây lan chủ yếu qua thức ăn hoặc nước bị ô nhiễm bởi các chất lắng cặn. Bệnh có thể được ngăn ngừa thông qua tiêm chủng, tránh ăn thịt sống và thịt nấu chưa nấu chín, và hãy đảm bảo rằng những người nấu ăn cho bạn đã rửa tay sau khi thay tã hoặc sử dụng nhà vệ sinh.

Mặc dù virut viêm gan loại A là virut từ thực phẩm, virut viêm gan B là từ trong máu và lây qua đường tình dục. Cũng như bệnh viêm gan A, có một loại văc-xin hiệu quả chống lại viêm gan B mà tất cả trẻ em cần được tiêm. Nhiễm virut viêm gan D chỉ có thể xảy ra ở một người đã bị nhiễm viêm gan B và do đó có thể ngăn ngừa được bằng cách ngừa viêm gan B. Vì vậy, nên tiêm chủng và tránh sử dụng ma túy và quan hệ tình dục không an toàn.

Thật không may, hiện nay không có vắc-xin cho khuẩn viêm gan C, loại virus gan đáng sợ nhất. Tiếp xúc có thể dẫn đến nhiễm trùng mãn tính, qua nhiều thập kỷ, có thể dẫn đến chai gan và suy gan. Viêm gan C hiện nay là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến các ca cấy ghép gan. 36

Tảo lục Chlorella giúp điều trị viêm gan C

Tảo lục Chlorella có tiềm năng hứa hẹn trong việc điều trị viêm gan C. Một nghiên cứu “mù” ngẫu nhiên, giả dược có kiếm soát đã phát hiện ra rằng khoảng hai muỗng cà phê chlorella mỗi ngày làm tăng hoạt động của các tế bào sát thủ tự nhiên trong cơ thể của những người tham gia, có thể loại bỏ các tế bào nhiễm viêm gan C một cách tự nhiên. 37

Một nghiên cứu lâm sàng của bệnh nhân viêm gan C cho thấy bổ sung chlorella có thể làm giảm mức độ viêm gan, tuy nhiên nghiên cứu này khá nhỏ và không được kiểm soát. 38

Người ta cần các phương pháp thay thế để điều trị viêm gan C đến tuyệt vọng, vì những liệu pháp cũ, ít tốn kém hơn thường thất bại do tác dụng phụ không thể chịu đựng được, trong khi các loại thuốc mới hơn và dễ dung nạp vào cơ thể hơn có thể tốn đến 1.000 đô la cho mỗi viên thuốc. 39

Chlorella có thể có tác dụng như một liệu pháp bổ sung mà không có tác dụng phụ dành cho những người không thể chịu được hoặc không chi trả được cho các liệu pháp chống vi rút thông thường.

Viêm gan C lây truyền qua đường máu, thông thường là qua việc dùng chung kim tiêm chứ không phải do truyền máu, vì hiện nay máu đã được kiểm tra virut trước khi truyền. Tuy nhiên, dùng chung các vật dụng cá nhân có thể dính một ít máu, chẳng hạn như qua bàn chải đánh răng hay dao cạo, cũng có thể gây nguy hiểm. 40

Mặc dù đã có trường hợp được báo cáo về việc một phụ nữ bị nhiễm viêm gan C khi dùng chung máy cắt thịt siêu thị với một đồng nghiệp bị nhiễm bệnh, 41 loại virut này không tự nhiên xuất hiện trong thịt, vì con người và tinh tinh là những động vật duy nhất mắc bệnh này.

Tuy nhiên, chúng ta không thể nói điều tương tự với virut viêm gan E.

Phòng ngừa viêm gan E thông qua chế độ ăn uống

Một trong các lãnh đạo của Phòng nghiên cứu virut viêm gan của CDC đã giải thích trong một bài báo có tựa đề “Nhiều thịt, nhiều bệnh: Thay đổi nhận thức về dịch tễ học của viêm gan E” rằng virut viêm gan E hiện nay được coi là bệnh kí sinh, có thể truyền từ động vật sang người, và thịt lợn có thể là nguồn virut chính. 42

Sự thay đổi tư duy đã bắt đầu vào năm 2003, khi các nhà nghiên cứu Nhật Bản nhận ra mối liên hệ giữa virut viêm gan E với việc ăn gan lợn nướng. Sau khi kiểm tra gan lợn từ các cửa hàng tạp hóa của Nhật, các nhà nghiên cứu xác định rằng gần 2% thịt được thử nghiệm dương tính với HEV. 43 Tại Mỹ, con số thậm chí còn tệ hơn: 11% gan lợn thương phẩm được mua từ cửa hàng tạp hóa bị nhiễm HEV. 44

Đó là con số đáng báo động, nhưng có bao nhiêu người thực sự ăn gan heo? Còn thịt lợn để lâu thì sao?

Thật không may, thịt lợn cũng có thể chứa HEV. Các chuyên gia nghi ngờ rằng phần lớn dân số Mỹ đã bị phơi nhiễm với virut này, vì tỷ lệ hiện nhiễm các kháng thể HEV tương đối cao trong số những người hiến máu ở Mỹ. Sự phơi nhiễm này có thể là kết quả của việc ăn thịt heo bị nhiễm HEV. 45

Vậy ở những quốc gia mà thịt lợn phổ biến hơn thì liệu có nhiều người chết vì bệnh gan hơn không? Có vẻ đúng như vậy. Mối quan hệ giữa tiêu thụ thịt lợn bình quân đầu người và tử vong do bệnh gan tương quan chặt chẽ với mức tiêu thụ rượu trên đầu người và tử vong do bệnh gan. Mỗi lát thịt lợn được tiêu thụ trên đầu người có thể làm tăng nguy cơ tử vong do bệnh gan trên quy mô toàn quốc tương đương với 2 cốc bia. 46

Phải chăng các cách chế biến thức ăn không thể loại bỏ virut? Thông thường, luôn có vấn đề về lây nhiễm chéo đến bàn tay hoặc bề mặt bếp khi xử lý thịt sống. Một khi thịt được nấu trong lò, hầu hết các mầm bệnh thực phẩm có thể được loại bỏ bằng cách nấu thịt đến nhiệt độ nấu ăn phù hợp, và cần đặc biệt nhấn mạnh từ phù hợp.

Các nhà nghiên cứu tại Viện Y tế Quốc gia đã đưa virut viêm gan E đến các mức độ nóng khác nhau và thấy rằng HEV có thể sống sót được khi thịt nấu tái. 47 Vì vậy, nếu bạn nấu thịt lợn, hãy đầu tư vào nhiệt kế để đo nhiệt độ thịt và đảm bảo tuân thủ đúng kỹ thuật sơ chế, kể cả khi cọ rửa bề mặt nhà bếp bằng các dung dịch tẩy. 48

Mặc dù hầu hết những người bị viêm gan E đều hồi phục hoàn toàn, nhưng bệnh có thể gây tử vong cho phụ nữ mang thai: Nguy cơ tử vong trong giai đoạn thứ ba của thai kỳ có thể lên đến 30%. 49 Nếu bạn đang mang thai, hãy đặc biệt cẩn thận khi sơ chế thịt lợn. Và nếu người trong gia đình thích thịt heo tái vừa, họ phải rửa tay sạch sẽ sau khi đi vệ sinh.

Thuốc giảm cân và bệnh gan

Chúng ta đã thấy các kế hoạch tiếp thị nhiều sản phẩm đáp ứng tất cả các yêu cầu về mặt sức khoẻ. Và với cấu trúc đa cấp giống kim tự tháp của những chương trình phân phối đó, bạn kiếm được tiền bằng cách bán sản phẩm và tuyển những người khác để bán hàng-một đồn 10, 10 đồn 100, điều này sẽ gây ra vấn đề khi việc PR đã làm quá sự thật.

Thực tế, trong khi phần lớn các tổn thương gan vì thuốc là do các loại thuốc men thông thường, thì tổn thương gan gây bởi một số loại thuốc bổ thậm chí còn nghiêm trọng hơn và có thể dẫn tới tỷ lệ cấy ghép gan và tử vong cao hơn. 50

Các nhà tiếp thị sản phẩm đa cấp có liên đới đến các phản ứng độc (như noni juice51 và Herbalife52) đã tham gia các nghiên cứu khoa học để củng cố các tuyên bố về sức khoẻ của họ. Tuy nhiên, một nghiên cứu về sức khoẻ cộng đồng cho thấy các nghiên cứu như vậy dường như đã được “cố tình tạo ra để phục vụ mục đích tiếp thị” và được trình bày nhằm gây hiểu nhầm cho người tiêu dùng tiềm năng.

Những nghiên cứu đáng nghi này cũng tương tự các nghiên cứu khác được viện dẫn để chứng minh sự an toàn khi sử dụng sản phẩm của họ. Ví dụ, một công ty tiếp thị đa cấp bán nước măng cụt đã trích dẫn một nghiên cứu mà họ trả tiền nhằm khẳng định rằng sản phẩm của họ “an toàn cho tất cả mọi người”.

Nghiên cứu này chỉ cho thấy 30 người tham gia sử dụng sản phẩm của họ với 10 người khác sử dụng biện pháp giả dược. Với rất ít người được thử nghiệm, các sản phẩm này có thể giết chết 1 hoặc 2% người dùng mà bạn không hề hay biết.54

Một nghiên cứu cho thấy công ty tiếp thị đa cấp đứng đằng sau một loại thuốc bổ sung được gọi là Metabolife được trích dẫn là an toàn đã thử nghiệm sản phẩm này trên 35 người. 55 Metabolife đã bị cấm khỏi thị trường sau khi dẫn đến các cơn đau tim, đột quỵ, tai biến và tử vong. 56

Axit hydroxycitric, một thành phần của các sản phẩm có tên Hydroxycut, đã được nghiên cứu trên 40 người. 57 Không có tác dụng bất lợi nghiêm trọng nào được tìm thấy, nhưng nó cũng có một cái kết tương tự: Hydroxycut đã bị thu hồi sau khi hàng chục trường hợp xác nhận bị tổn thương nội tạng được đưa ra ánh sáng- bao gồm suy gan nghiêm trọng, cần phải cấy ghép và thậm chí tử vong. 58

Cho đến khi ngành thực phẩm bổ sung từ thảo dược trị giá hàng tỉ đô la được điều chỉnh một cách tốt hơn, tốt nhất là bạn hãy tiết kiệm tiền của và sức khoẻ bằng cách sử dụng thực phẩm “thật”.

BẢO VỆ GAN NGAY TỪ BỮA SÁNG

Các loại thực phẩm thực vật cụ thể đã được chứng minh là có khả năng bảo vệ gan. Ví dụ, bắt đầu ngày mới với một bát bột yến mạch và một cốc cà phê (ngạc nhiên chưa?) có thể giúp bảo vệ chức năng gan của chúng ta.

Bột yến mạch giúp bảo vệ gan

Trong nhiều nghiên cứu về dân số, việc tiêu thụ ngũ cốc nguyên hạt có liên quan đến giảm nguy cơ mắc một loạt các bệnh mãn tính, 59  nhưng thật khó để tách biệt được liệu ăn ngũ cốc có phải chỉ là một dấu hiệu cho một lối sống lành mạnh nói chung hay không.

Yến mạch: Thành phần dinh dưỡng và những lợi ích đối với sức khỏe.

Cụ thể, những người ăn ngũ cốc nguyên hạt, chẳng hạn như bột yến mạch, lúa mì và gạo lứt thường có khuynh hướng hoạt động thể chất nhiều hơn, hút thuốc ít hơn và ăn nhiều trái cây, rau củ và chất xơ hơn60 so với những người thích ăn sáng bằng các sản phẩm ngũ cốc đóng hộp.

Không có gì ngạc nhiên khi nhóm thứ nhất sẽ có nguy cơ mắc bệnh thấp hơn. May mắn thay, các nhà nghiên cứu có thể kiểm soát được những yếu tố này, khi so sánh hiệu quả giữa những người không hút thuốc với nhau, có cùng chế độ ăn kiêng và tập thể dục. Khi đã kiểm soát những yếu tố này, ngũ cốc nguyên hạt vẫn chứng minh được khả năng bảo vệ cơ thể của nó.

Nói cách khác, tuy có bằng chứng rõ ràng chứng minh rằng những người ăn bột yến mạch có thể có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn, nhưng điều này khác hẳn với việc bạn bắt đầu ăn nhiều bột yến mạch để làm giảm nguy cơ của mình xuống.

Để chứng minh mối quan hệ nhân-quả, chúng ta cần thực hiện một thử nghiệm can thiệp: Thay đổi chế độ ăn uống của người tham gia và xem điều gì sẽ xảy ra. Lý tưởng nhất là các nhà nghiên cứu sẽ phân chia ngẫu nhiên người tham gia thành hai nhóm và cho một nửa trong số đó bột yến mạch và nửa còn lại là giả dược – một loại bột có hình dạng và hương vị tương tự yến mạch.

Cả đối tượng nghiên cứu cũng như các nhà nghiên cứu đều không thể biết ai thuộc nhóm nào cho đến khi nghiên cứu kết thúc. Phương pháp thử nghiệm “mù” thiết thực này rất dễ sử dụng khi nghiên cứu thuốc, vì bạn chỉ cần cho người tham gia một viên thuốc giống như loại thuốc đang được nghiên cứu.

Vào năm 2013, một nhóm các nhà nghiên cứu công bố nghiên cứu thử nghiệm “mù”, ngẫu nhiên, kiểm soát giả dược đầu tiên thực hiện với những người đàn ông và phụ nữ thừa cân. 62

Họ thấy có sự giảm đáng kể viêm gan ở nhóm ăn bột yến mạch thực sự, nhưng có thể bởi vì họ giảm được nhiều cân hơn so với nhóm đối chứng (tức là những người sử dụng giả dược).

Gần 90% các đối tượng điều trị bằng bột yến mạch đã giảm cân, so với nhóm đối chứng – không giảm cân nào, theo kết quả tính trung bình. Vậy nên tác dụng của ngũ cốc nguyên hạt đến chức năng gan có thể coi là tác dụng gián tiếp. 63

Một nghiên cứu tiếp theo vào năm 2014 đã giúp xác nhận những kết quả về khả năng bảo vệ của các loại ngũ cốc nguyên hạt trong việc làm giảm nguy cơ viêm gan ở những bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu.

Trong nghiên cứu này, ăn ngũ cốc tinh chế dẫn đến nguy cơ gia tăng bệnh tật. 64 Vì vậy, hãy dừng việc ăn bánh mì Wonder Bread, thay vào đó, hãy sử dụng các thực phẩm ngũ cốc tuyệt vời, trong đó có bột yến mạch.

Cocktail Nam việt quất giúp bảo vệ gan

Một nhóm các hợp chất thực vật được gọi là anthocyanins – các sắc tố tím, đỏ và xanh dương trong các loại quả như dâu, nho, mận, bắp cải tím và hành tím – đã được chứng minh là có khả năng ngăn sự tích tụ chất béo ở tế bào gan người trong các nghiên cứu ống nghiệm. 65 Một thử nghiệm lâm sàng (trên người) đã được công bố, trong đó một hỗn hợp khoai lang tím đã làm giảm viêm gan hiệu quả hơn so với giả dược. 66

Khi nói đến việc ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư gan người trong một đĩa petri, 67 nam việt quất đã đánh bại loạt trái cây phổ biến nhất ở Mỹ: táo, chuối, bưởi, nho, chanh, cam, đào, lê, dứa và dâu tây.

Quả nam việt quất: Thành phần dinh dưỡng và những lợi ích đối với sức khỏe

Các nghiên cứu khác đã phát hiện ra rằng quả nam việt quất cũng có hiệu quả trong các thí nghiệm ống nghiệm nhằm chống lại các loại ung thư khác, bao gồm ung thư não, 68 vú, 69 đại tràng, 70 phổi, 71 miệng, 72  buồng trứng, 73 tuyến tiền liệt, 74 và dạ dày. 75Thật không may là chưa có các nghiên cứu lâm sàng về tác động của quả nam việt quất đối với bệnh nhân ung thư để xác nhận những kết quả này.

Hơn nữa, các nhà khoa học đã gây thất vọng cho ngành công nghiệp dược phẩm khi không thể công bố các thành phần hoạt tính có hiệu quả đặc biệt của nam việt quất.

Chiết xuất gồm thành phần đơn lẻ trong nam việt quất không có hiệu quả trong việc chống ung thư giống như trái nam việt quất tươi, 76 và tất nhiên là người ta sẽ không cấp bằng sáng chế cho quả việt quất.

Càng ngày càng có thêm nhiều bằng chứng cho thấy rằng thực phẩm toàn phần bao giờ cũng tốt hơn.

Làm thế nào để ăn nam việt quất tươi, khi chúng có vị rất chua?

Thật không hề dễ dàng khi mua sắm ở cửa hàng tạp hóa, bởi đến 95% nam việt quất được bán dưới dạng các sản phẩm đã qua chế biến, như nước trái cây và nước sốt. 77 Trên thực tế, để có được cùng một lượng anthocyanins tìm thấy trong một cốc nam việt quất tươi hoặc đông lạnh, bạn phải uống 16 cốc nước ép nam việt quất, ăn 7 cốc nam việt quất khô, hoặc làm cách nào đó ăn hết 26 hộp nước sốt nam việt quất. 78

Dưỡng chất thực vật màu đỏ ruby ​​có trong quả nam việt quất là một chất chống oxy hóa mạnh, nhưng xirô ngô nhiều đường fructose được cho thêm vào Cocktail nam việt quất thông thường lại hoạt động như một chất oxy hóa, làm giảm thiểu một số lợi ích. 79

Dưới đây là một công thức đơn giản cho món nước giải khát từ nam việt quất ngon lành với “phiên bản” thực phẩm toàn phần, món Pink Juice của tôi:

  • 1 nắm nam việt quất tươi hoặc đông lạnh
  • 2 cốc nước
  • 8 muỗng cà phê erythritol

Cho tất cả các nguyên liệu vào máy xay sinh tố và xay với tốc độ cao. Thêm đá và thưởng thức.

Chỉ với 12 calo, công thức chế biến này có lượng calo ít hơn 25 lần và gấp tối thiểu 8 lần dưỡng chất thực vật so với các loại nước ép trái cây nam việt quất thông thường. 80

Để tăng thêm hương vị, hãy xay thêm một vài lá bạc hà tươi. Bạn sẽ có một lớp bọt màu xanh lá cây kỳ lạ ở bên trên, nhưng không chỉ có vị ngon, bạn sẽ rất vui khi biết rằng bạn vừa nạp vào cơ thể quả họ dâu và rau lá xanh, hai trong những loại thực phẩm lành mạnh nhất trên hành tinh này. Cạn ly!

Cà phê hỗ trợ điều trị các bệnh về gan

Trở lại năm 1986, một nhóm các nhà nghiên cứu người Na Uy đã có một phát hiện bất ngờ: Uống rượu dẫn đến viêm gan (điều này thì không có gì đáng ngạc nhiên), nhưng uống cà phê lại dẫn đến ít viêm gan hơn. 81

Các kết quả này được tái tạo lại trong các nghiên cứu tiếp theo được thực hiện trên khắp thế giới . Ở Mỹ, một nghiên cứu đã được thực hiện với những người có nguy cơ cao mắc bệnh gan-ví dụ như những người thừa cân hoặc uống quá nhiều rượu.

Những người uống nhiều hơn hai cốc cà phê mỗi ngày dường như có nguy cơ bị bệnh gan mãn tính ít hơn một nửa so với những người uống ít hơn một cốc. 82

Vậy còn ung thư gan – một trong những biến chứng đáng sợ nhất của viêm gan mãn tính? Hiện nay, nó chính là nguyên nhân thứ ba gây tử vong do ung thư, một sự bùng phát chủ yếu là do sự gia tăng viêm gan C và bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD). 83

Có tin tốt cho mọi người đây. Một bài tổng hợp các nghiên cứu tốt nhất cho đến năm 2013 cho thấy rằng những người uống nhiều cà phê nhất có ít nguy cơ ung thư gan hơn một nửa so với những người uống ít nhất. 84

Một nghiên cứu sau đó cho thấy việc uống 4 ly cà phê mỗi ngày dẫn đến giảm tới 92 % nguy cơ với những người hút thuốc lá chết vì bệnh gan mãn tính. 85 Tất nhiên, việc bỏ hút thuốc cũng giúp ích; bởi hút thuốc lá có thể làm tăng gấp 10 lần số người viêm gan C chết vì ung thư gan. 86

Tương tự, những người nghiện rượu nặng uống nhiều hơn 4 cốc cà phê mỗi ngày dường như có thể giảm nguy cơ viêm gan – nhưng không nhiều như những người uống ít rượu đi. 87

Ung thư gan là một trong những loại ung thư có thể tránh được nhất, thông qua tiêm chủng viêm gan B, kiểm soát lây truyền viêm gan C, và giảm tiêu thụ rượu bia. Về nguyên tắc, 3 biện pháp này có thể quét sạch 90% ung thư gan trên toàn thế giới. Hiện chưa rõ liệu uống cà phê có vai trò gì đặc biệt không, nhưng vai trò đó có nhiều điểm hạn chế so với việc ngăn ngừa tổn thương gan ngay từ đầu. 88

Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu bạn đã bị nhiễm viêm gan C hoặc thuộc tỉ lệ một trong ba người Mỹ89 mắc bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu? Cho đến gần đây, không có thử nghiệm lâm sàng nào đưa cà phê vào thử nghiệm.

Tuy nhiên, vào năm 2013, các nhà nghiên cứu đã công bố một nghiên cứu, trong đó có 40 bệnh nhân viêm gan C mãn tính được chia thành 2 nhóm: nhóm thứ nhất uống 4 ly cà phê mỗi ngày trong một tháng, trong khi nhóm thứ hai không uống cà phê.

Sau 30 ngày, hai nhóm đổi liệu trình với nhau. Tất nhiên, hai tháng là không đủ lâu để phát hiện ra những thay đổi trong kết quả ung thư, nhưng trong thời gian đó, các nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng tiêu thụ cà phê có thể làm giảm sự phá huỷ DNA, tăng độ đào thải các tế bào nhiễm virut và làm chậm lại quy trình gây sẹo. 90

Những kết quả này giúp giải thích vai trò của cà phê trong việc làm giảm nguy cơ tiến triển bệnh gan.

Một bình luận trong tạp chí Gastroenterology có tựa đề ” Is It Time to Write a Prescription for Coffee?- Đã đến lúc kê đơn thuốc bằng cà phê chăng?” đã khám phá những ưu và khuyết điểm. 91  Một số người khẳng định rằng trước tiên chúng ta phải xác định được thành phần hoạt chất nào trong hạt cà phê có tính bảo vệ.

Tuy nhiên, có hơn một nghìn hợp chất khác nhau được tìm thấy trong cà phê. 92Cần phải thực hiện nhiều nghiên cứu hơn, tuy nhiên cho đến lúc đó, uống cà phê không đường ít nhất một lần mỗi ngày nên được coi là một sự bổ sung hợp lý cho việc điều trị ở những người có nguy cơ cao bị tổn thương gan, như những người bị gan nhiễm mỡ. 93

Hãy luôn nhớ rằng uống nước giải khát có caffein có thể dẫn đến phụ thuộc chúng, và triệu chứng cai caffein có thể bao gồm những ngày đau đầu, mệt mỏi, khó tập trung, và những rối loạn về tâm trạng. 94

Trớ trêu thay, thói quen uống cà phê có thể là một điều tốt. Nếu lợi ích sức khoẻ của gan được xác nhận, thì cuối cùng, việc uống cà phê hàng ngày có thể là một lợi thế.95

Với bệnh gan, như mọi căn bệnh khác, phòng ngừa chính là mấu chốt. Tất cả các tình trạng gan nghiêm trọng nhất – ung thư gan, suy gan và chai gan – có thể bắt đầu khi gan bị viêm. Sự viêm nhiễm có thể do nhiễm trùng hoặc tích tụ mỡ.

Virut gan có thể được ngăn ngừa bằng các biện pháp thông thường. Không tiêm chích ma túy, nhớ tiêm phòng, và tình dục an toàn. Mỡ gan cũng có thể được ngăn ngừa bằng các biện pháp thông thường: Tránh tiêu thụ quá nhiều rượu, calo, cholesterol, chất béo bão hòa và đường.

Michael Greger, M.D.,

Hãy cho chúng tôi biết suy nghĩ của bạn về bài viết này thông qua việc để lại comment ở dưới đây. Nếu bạn thấy bài viết hữu ích hãy like và share ngay nhé.

Danh mục tài liệu tham khảo từ các công trình nghiên cứu, bằng chứng khoa học:

1. Chiras, DD. Human Biology. Burlington, MA: Jones & Bartlett Learning; 2015.
2. Centers for Disease Control and Prevention. Deaths: final data for 2013 table 10. Number of deaths from 113 selected causes. National Vital Statistics Report 2016;64(2).

3. National Cancer Institute Surveillance, Epidemiology, and End Results Program. SEER stat fact sheets: liver and intrahepatic bile duct cancer. http://seer.cancer.gov/statfacts/html/livibd.html. Accessed May 3, 2015.

4. Holubek WJ, Kalman S, Hoffman RS. Acetaminophen-induced acute liver failure: results of a United States multicenter, prospective study. Hepatology. 2006;43(4):880.

5. Mokdad AH, Marks JS, Stroup DF, Gerberding JL. Actual causes of death in the United States, 2000. JAMA. 2004;291(10):1238–45.

6. CDC Morbidity and Mortality Weekly Report. Alcohol-attributable deaths and years of potential life l—United States, 2001. http://www.cdc.gov/mmwr/preview/mmwrhtml/mm5337a2.htm. September 24, 2004. Accessed March 2, 2015.

7. Centers for Disease Control and Prevention. Fact sheets – alcohol use and your health. http://www.cdc.gov/alcohol/fact-sheets/alcohol-use.htm. November 7, 2014. Accessed March 2, 2015.

8. Schwartz JM, Reinus JF. Prevalence and natural history of alcoholic liver disease. Clin Liver Dis. 2012;16(4):659–66.

9. Lane BP, Lieber CS. Ultrastructural alterations in human hepatocytes following ingestion of ethanol with adequate diets. Am J Pathol. 1966;49(4):593–603.

10. Mendenhall CL. Anabolic steroid therapy as an adjunct to diet in alcoholic hepatic steatosis. Am J Dig Dis. 1968;13(9):783–91.

11. O’Shea RS, Dasarathy S, McCullough AJ. Alcoholic liver disease. Hepatology. 2010;51(1):307–28.

12. Mandayam S, Jamal MM, Morgan TR. Epidemiology of alcoholic liver disease. Semin Liver Dis. 2004;24(3):217–32.

13. Galambos JT. Natural history of alcoholic hepatitis. 3. Histological changes. Gastroenterology. 1972;63(6):1026–35.

14. Woerle S, Roeber J, Landen MG. Prevalence of alcohol dependence among excessive drinkers in New Mexico. Alcohol Clin Exp Res. 2007;31(2):293–8.

15. Kaskutas LA. Alcoholics anonymous effectiveness: faith meets science. J Addict Dis. 2009;28(2):145–57.

16. Grønbaek M. The positive and negative health effects of alcohol and the public health implications. J Intern Med. 2009;265(4):407–20.

17. Britton A, Marmot MG, Shipley M. Who benefits most from the cardioprotective properties of alcohol consumption—health freaks or couch potatoes? J Epidemiol Community Health. 2008;62(10):905–8.

18. Agarwal DP. Cardioprotective effects of light-moderate consumption of alcohol: a review of putative mechanisms. Alcohol Alcohol. 2002;37(5):409–15.

19. Britton A, Marmot MG, Shipley M. Who benefits most from the cardioprotective properties of alcohol consumption—health freaks or couch potatoes? J Epidemiol Community Health. 2008;62(10):905–8.

20. Britton A, Marmot MG, Shipley M. Who benefits most from the cardioprotective properties of alcohol consumption—health freaks or couch potatoes? J Epidemiol Community Health. 2008;62(10):905–8.

21. Kechagias S, Ernersson Å, Dahlqvist O, et al. Fast-food-based hyper-alimentation can induce rapid and profound elevation of serum alanine aminotransferase in healthy subjects. Gut. 2008;57(5):649–54.

22. McCarthy EM, Rinella ME. The role of diet and nutrient composition in nonalcoholic fatty liver disease. J Acad Nutr Diet. 2012;112(3):401–9.

23. Silverman JF, Pories WJ, Caro JF. Liver pathology in diabetes mellitus and morbid obesity: clinical, pathological and biochemical considerations. Pathol Annu. 1989;24:275–302.

24. Singh S, Allen AM, Wang Z, Prokop LJ, Murad MH, Loomba R. Fibrosis progression in nonalcoholic fatty liver vs nonalcoholic steatohepatitis: a systematic review and meta-analysis of paired-biopsy studies. Clin Gastroenterol Hepatol. 2014;S1542–3565(14):00602–8.

25. Zelber-Sagi S, Nitzan-Kaluski D, Goldsmith R, et al. Long term nutritional intake and the risk for non-alcoholic fatty liver disease (NAFLD): a population based study. J Hepatol. 2007;47(5):711–7.

26. Zelber-Sagi S, Nitzan-Kaluski D, Goldsmith R, et al. Long term nutritional intake and the risk for non-alcoholic fatty liver disease (NAFLD): a population based study. J Hepatol. 2007;47(5):711–7.

27. Longato L. Non-alcoholic fatty liver disease (NAFLD): a tale of fat and sugar? Fibrogenesis Tissue Repair. 2013;6(1):14.

28. Musso G, Gambino R, De Michieli F, et al. Dietary habits and their relations to insulin resistance and postprandial lipemia in nonalcoholic steatohepatitis. Hepatology. 2003;37(4):909–16.

29. Kontogianni MD, Tileli N, Margariti A, et al. Adherence to the Mediterranean diet is associated with the severity of non-alcoholic fatty liver disease. Clin Nutr. 2014;33(4):678–83.

30. Kim EJ, Kim BH, Seo HS, et al. Cholesterol-induced non-alcoholic fatty liver disease and atherosclerosis aggravated by systemic inflammation. PLoS ONE. 2014;9(6):e97841.

31. Yasutake K, Nakamuta M, Shima Y, et al. Nutritional investigation of non-obese patients with non-alcoholic fatty liver disease: the significance of dietary cholesterol. Scand J Gastroenterol. 2009;44(4):471–7.

32. Duewell P, Kono H, Rayner KJ, et al. NLRP3 inflammasomes are required for atherogenesis and activated by cholesterol crystals that form early in disease. Nature. 2010;464(7293):1357–61.

33. Ioannou GN, Haigh WG, Thorning D, Savard C. Hepatic cholesterol crystals and crown-like structures distinguish NASH from simple steatosis. J Lipid Res. 2013;54(5):1326–34.

34. U.S. Department of Agriculture Agricultural Research Service. National Nutrient Database for Standard Reference Release 27. Basic Report: 21359, McDonald’s, sausage McMuffin with egg. http://ndb.nal.usda.gov/ndb/foods/show/6845. Accessed March 2, 2015.

35. Ioannou GN, Morrow OB, Connole ML, Lee SP. Association between dietary nutrient composition and the incidence of cirrhosis or liver cancer in the United States population. Hepatology. 2009;50(1):175–84.

36. National Institute of Diabetes and Digestive and Kidney Diseases. Liver transplantation. http://www.niddk.nih.gov/health-information/health-topics/liver-disease/liver-transplant/Pages/facts.aspx. June 2010. Accessed March 2, 2015.

37. Kwak JH, Baek SH, Woo Y, et al. Beneficial immunostimulatory effect of short-term Chlorella supplementation: enhancement of natural killer cell activity and early inflammatory response (randomized, double-blinded, placebo-controlled trial). Nutr J. 2012;11:53.

38. Azocar J, Diaz A. Efficacy and safety of Chlorella supplementation in adults with chronic hepatitis C virus infection. World J Gastroenterol. 2013 Feb 21;19(7):1085–90.

39. Goozner M. Why Sovaldi shouldn’t cost $84,000. Mod Healthc. 2014;44(18):26.

40. Lock G, Dirscherl M, Obermeier F, et al. Hepatitis C – contamination of toothbrushes: myth or reality? J Viral Hepat. 2006;13(9):571–3.

41. Bocket L, Chevaliez S, Talbodec N, Sobaszek A, Pawlotsky JM, Yazdanpanah Y. Occupational transmission of hepatitis C virus resulting from use of the same supermarket meat slicer. Clin Microbiol Infect. 2011;17(2):238–41.

42. Teo CG. Much meat, much malady: changing perceptions of the epidemiology of hepatitis E. Clin Microbiol Infect. 2010;16(1):24–32.

43. Yazaki Y, Mizuo H, Takahashi M, et al. Sporadic acute or fulminant hepatitis E in Hokkaido, Japan, may be food-borne, as suggested by the presence of hepatitis E virus in pig liver as food. J Gen Virol. 2003;84(Pt 9):2351–7.

44. Feagins AR, Opriessnig T, Guenette DK, Halbur PG, Meng XJ. Detection and characterization of infectious Hepatitis E virus from commercial pig livers sold in local grocery stores in the USA. J Gen Virol. 2007;88(Pt 3):912–7.

45. Feagins AR, Opriessnig T, Guenette DK, Halbur PG, Meng XJ. Detection and characterization of infectious Hepatitis E virus from commercial pig livers sold in local grocery stores in the USA. J Gen Virol. 2007;88(Pt 3):912–7.
46. Dalton HR, Bendall RP, Pritchard C, Henley W, Melzer D. National mortality rates from chronic liver disease and consumption of alcohol and pig meat. Epidemiol Infect. 2010;138(2):174–82.

47. Emerson SU, Arankalle VA, Purcell RH. Thermal stability of hepatitis E virus. J Infect Dis. 2005 Sep 1;192(5):930–3.

48. Centers for Disease Control and Prevention. What can you do to protect yourself and your family from food poisoning? http://www.cdc.gov/foodsafety/prevention.html. September 6, 2013. Accessed March 11, 2015.

49. Shinde NR, Patil TB, Deshpande AS, Gulhane RV, Patil MB, Bansod YV. Clinical profile, maternal and fetal outcomes of acute hepatitis E in pregnancy. Ann Med Health Sci Res. 2014;4(Suppl 2):S133–9.

50. Navarro VJ, Barnhart H, Bonkovsky HL, et al. Liver injury from herbals and dietary supplements in the U.S. Drug-Induced Liver Injury Network. Hepatology. 2014;60(4):1399–408.

51. Yu EL, Sivagnanam M, Ellis L, Huang JS. Acute hepatotoxicity after ingestion of Morinda citrifolia (Noni Berry) juice in a 14-year-old boy. J Pediatr Gastroenterol Nutr. 2011;52(2):222–4.

52. Licata A, Craxt A. Considerations regarding the alleged association between Herbalife products and cases of hepatotoxicity: a rebuttal. Intern Emerg Med. 2014;9(5):601–2.

53. Lobb AL. Science in liquid dietary supplement promotion: the misleading case of mangosteen juice. Hawaii J Med Public Health. 2012;71(2):46–8.

54. Lobb AL. Science in liquid dietary supplement promotion: the misleading case of mangosteen juice. Hawaii J Med Public Health. 2012;71(2):46–8.

55. Boozer CN, Nasser JA, Heymsfield SB, Wang V, Chen G, Solomon JL. An herbal supplement containing Ma Huang-Guarana for weight loss: a randomized, double-blind trial. Int J Obes Relat Metab Disord. 2001;25(3):316–24.

56. US Government Accountability Office. Dietary Supplements Containing Ephedra: Health Risks and FDA’s Oversight. http://www.gao.gov/assets/120/110228.pdf. July 23, 2003. Accessed March 2, 2015.

57. Preuss HG, Bagchi D, Bagchi M, Rao CV, Dey DK, Satyanarayana S. Effects of a natural extract of (-)-hydroxycitric acid (HCA-SX) and a combination of HCA-SX plus niacin-bound chromium and Gymnema sylvestre extract on weight loss. Diabetes Obes Metab. 2004;6(3):171–80.

58. Fong TL, Klontz KC, Canas-Coto A, et al. Hepatotoxicity due to hydroxycut: a case series. Am J Gastroenterol. 2010;105(7):1561–6.

59. Ye EQ, Chacko SA, Chou EL, Kugizaki M, Liu S. Greater whole-grain intake is associated with lower risk of type 2 diabetes, cardiovascular disease, and weight gain. J Nutr. 2012;142(7):1304–13.

60. Karl JP, Saltzman E. The role of whole grains in body weight regulation. Adv Nutr. 2012;3(5):697–707.

61. Ye EQ, Chacko SA, Chou EL, Kugizaki M, Liu S. Greater whole-grain intake is associated with lower risk of type 2 diabetes, cardiovascular disease, and weight gain. J Nutr. 2012;142(7):1304–13.

62. Chang H-C, Huang C-N, Yeh D-M, Wang S-J, Peng C-H, Wang C-J. Oat prevents obesity and abdominal fat distribution, and improves liver function in humans. Plant Foods Hum Nutr. 2013;68(1):18–23.

63. Chang H-C, Huang C-N, Yeh D-M, Wang S-J, Peng C-H, Wang C-J. Oat prevents obesity and abdominal fat distribution, and improves liver function in humans. Plant Foods Hum Nutr. 2013;68(1):18–23.

64. Georgoulis M, Kontogianni MD, Tileli N, et al. The impact of cereal grain consumption on the development and severity of non-alcoholic fatty liver disease. Eur J Nutr. 2014;53(8):1727–35.

65. Valenti L, Riso P, Mazzocchi A, Porrini M, Fargion S, Agostoni C. Dietary anthocyanins as nutritional therapy for nonalcoholic fatty liver disease. Oxid Med Cell Longev. 2013;2013:145421.

66. Suda I, Ishikawa F, Hatakeyama M, et al. Intake of purple sweet potato beverage affects on serum hepatic biomarker levels of healthy adult men with borderline hepatitis. Eur J Clin Nutr. 2008;62(1):60–7.

67. Sun J, Chu YF, Wu X, Liu RH. Antioxidant and antiproliferative activities of common fruits. J Agric Food Chem. 2002;50(25):7449–54.

68. Ferguson PJ, Kurowska EM, Freeman DJ, Chambers AF, Koropatnick J. In vivo inhibition of growth of human tumor lines by flavonoid fractions from cranberry extract. Nutr Cancer. 2006;56(1):86–94.

69. Sun J, Hai Liu R. Cranberry phytochemical extracts induce cell cycle arrest and apoptosis in human MCF-7 breast cancer cells. Cancer Lett. 2006;241(1):124–34.

70. Ferguson PJ, Kurowska EM, Freeman DJ, Chambers AF, Koropatnick J. In vivo inhibition of growth of human tumor lines by flavonoid fractions from cranberry extract. Nutr Cancer. 2006;56(1):86–94.

71. Kresty LA, Howell AB, Baird M. Cranberry proanthocyanidins mediate growth arrest of lung cancer cells through modulation of gene expression and rapid induction of apoptosis. Molecules. 2011;16(3):2375–90.

72. Seeram NP, Adams LS, Zhang Y, et al. Blackberry, black raspberry, blueberry, cranberry, red raspberry, and strawberry extracts inhibit growth and stimulate apoptosis of human cancer cells in vitro. J Agric Food Chem. 2006;54(25):9329–39.

73. Kim KK, Singh AP, Singh RK, et al. Anti-angiogenic activity of cranberry proanthocyanidins and cytotoxic properties in ovarian cancer cells. Int J Oncol. 2012;40(1):227–35.

74. Déziel B, MacPhee J, Patel K, et al. American cranberry (Vaccinium macrocarpon) extract affects human prostate cancer cell growth via cell cycle arrest by modulating expression of cell cycle regulators. Food Funct. 2012;3(5):556–64.

75. Liu M, Lin LQ, Song BB, et al. Cranberry phytochemical extract inhibits SGC-7901 cell growth and human tumor xenografts in Balb/c nu/nu mice. J Agric Food Chem. 2009;57(2):762–8.

76. Seeram NP, Adams LS, Hardy ML, Heber D. Total cranberry extract versus its phytochemical constituents: antiproliferative and synergistic effects against human tumor cell lines. J Agric Food Chem. 2004;52(9):2512–7.

77. Grace MH, Massey AR, Mbeunkui F, Yousef GG, Lila MA. Comparison of health-relevant flavonoids in commonly consumed cranberry products. J Food Sci. 2012;77(8):H176–83.

78. Grace MH, Massey AR, Mbeunkui F, Yousef GG, Lila MA. Comparison of health-relevant flavonoids in commonly consumed cranberry products. J Food Sci. 2012;77(8):H176–83.

79. Vinson JA, Bose P, Proch J, Al Kharrat H, Samman N. Cranberries and cranberry products: powerful in vitro, ex vivo, and in vivo sources of antioxidants. J Agric Food Chem. 2008;56(14):5884–91.

80. White BL, Howard LR, Prior RL. Impact of different stages of juice processing on the anthocyanin, flavonol, and procyanidin contents of cranberries. J Agric Food Chem. 2011;59(9):4692–8.

81. Arnesen E, Huseby N-E, Brenn T, Try K. The Tromse heart study: distribution of, and determinants for, gamma-glutamyltransferase in a free-living population. Scand J Clin Lab Invest. 1986;46(1):63–70.

82. Ruhl CE, Everhart JE. Coffee and tea consumption are associated with a lower incidence of chronic liver disease in the United States. Gastroenterology. 2005;129(6):1928–36.

83. Salgia R, Singal AG. Hepatocellular carcinoma and other liver lesions. Med Clin North Am. 2014;98(1):103–18.

84. Sang LX, Chang B, Li X-H, Jiang M. Consumption of coffee associated with reduced risk of liver cancer: a meta-analysis. BMC Gastroenterol. 2013;13:34.

85. Lai GY, Weinstein SJ, Albanes D, et al. The association of coffee intake with liver cancer incidence and chronic liver disease mortality in male smokers. Br J Cancer. 2013;109(5):1344–51.

86. Fujita Y, Shibata A, Ogimoto I, et al. The effect of interaction between hepatitis C virus and cigarette smoking on the risk of hepatocellular carcinoma. Br J Cancer. 2006;94(5):737–9.

87. Danielsson J, Kangastupa P, Laatikainen T, Aalto M, Niemelä O. Dose- and gender-dependent interactions between coffee consumption and serum GGT activity in alcohol consumers. Alcohol Alcohol. 2013;48(3):303–7.

88. Bravi F, Bosetti C, Tavani A, Gallus S, La Vecchia C. Coffee reduces risk for hepatocellular carcinoma: an meta-analysis. Clin Gastroenterol Hepatol. 2013;11(11):1413–21.e1.

89. Browning JD, Szczepaniak LS, Dobbins R, et al. Prevalence of hepatic steatosis in an urban population in the United States: impact of ethnicity. Hepatology. 2004;40(6):1387–95.

90. Cardin R, Piciocchi M, Martines D, Scribano L, Petracco M, Farinati F. Effects of coffee consumption in chronic hepatitis C: a randomized controlled trial. Dig Liver Dis. 2013;45(6):499–504.

91. Torres DM, Harrison SA. Is it time to write a prescription for coffee? Coffee and liver disease. Gastroenterology. 2013;144(4):670–2.

92. Ng V, Saab S. Can daily coffee consumption reduce liver disease-related mortality? Clin Gastroenterol Hepatol. 2013;11(11):1422–3.

93. Torres DM, Harrison SA. Is it time to write a prescription for coffee? Coffee and liver disease. Gastroenterology. 2013;144(4):670–2.

94. Juliano LM, Griffiths RR. A critical review of caffeine withdrawal: empirical validation of symptoms and signs, incidence, severity, and associated features. Psychopharmacology (Berl). 2004;176(1):1–29.

95. O’Keefe JH, Bhatti SK, Patil HR, DiNicolantonio JJ, Lucan SC, Lavie CJ. Effects of habitual coffee consumption on cardiometabolic disease, cardiovascular health, and all-cause mortality. J Am Coll Cardiol. 2013;62(12):1043–51.