Ăn Gì Để Không Chết Vì Các Bệnh Liên Quan Đến Phổi

Ăn Gì Để Không Chết Vì Các Bệnh Liên Quan Đến Phổi
5 (100%) 11 votes

Caroty.com trân trọng gửi đến bạn bài viết: Ăn Gì Để Không Chết Vì Các Bệnh Liên Quan Đến Phổi

Kẻ giết người số hai tại Mỹ –  bệnh phổi, đã cướp đi mạng sống của khoảng 300.000 người mỗi năm. Và cũng giống như kẻ giết người số một của chúng ta – bệnh tim, bệnh phổi là hoàn toàn có thể phòng ngừa được. Bệnh phổi có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức, nhưng ba loại gây tử vong nhiều nhất là: Ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) và hen suyễn.

Ung thư phổi là kẻ giết người số một trong số các bệnh ung thư. Phần lớn trong 160.000 ca tử vong do ung thư phổi mỗi năm là kết quả trực tiếp của việc hút thuốc lá. Tuy nhiên, một chế độ ăn uống lành mạnh có thể giúp làm giảm các tác động phá huỷ DNA của khói thuốc lá, cũng như có thể giúp ngăn ngừa ung thư lây lan.

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) giết chết khoảng 140.000 người mỗi năm, từ việc gây tổn thương thành của các túi khí nhỏ trong phổi (khí thủng phổi) hoặc do đường thở bị viêm và dày lên đi kèm với dịch nhầy đặc (viêm phế quản mãn tính). Mặc dù không có phương pháp chữa khỏi hẳn bệnh phổi do COPD gây ra, nhưng một chế độ ăn uống giàu trái cây và rau củ có thể giúp làm chậm sự phát triển của bệnh và cải thiện chức năng phổi cho mười ba triệu người mắc bệnh.

Cuối cùng, hen suyễn với 3,000 người chết mỗi năm, là một trong những bệnh mãn tính phổ biến nhất ở trẻ em, nhưng hoàn toàn có thể ngăn ngừa được bằng một chế độ ăn uống lành mạnh hơn. Nghiên cứu cho thấy bổ sung vào khẩu phần ăn hàng ngày gồm trái cây và rau củ có thể làm giảm số trường hợp mắc hen suyễn ở trẻ và cả số lượng các cơn hen suyễn đối với những người mắc bệnh.

ĂN GÌ ĐỂ KHÔNG BỊ CHẾT VÌ BỆNH UNG THƯ PHỔI

Ung thư phổi được chẩn đoán khoảng 220.000 lần mỗi năm ở Mỹ và hàng năm, bệnh này gây tử vong nhiều hơn ba loại ung thư xếp tiếp theo cộng lại: ung thư đại tràng, vú và tuyến tụy (1).

Tại bất kỳ thời điểm nào cũng có gần 400.000 người Mỹ đang sống dưới cái bóng của bệnh ung thư phổi (2). Khác với bệnh tim – căn bệnh chưa được chứng minh chắc chắn liệu có phải là hậu quả trực tiếp của chế độ ăn gây tắc động mạch hay không, thì hầu như ai cũng biết rằng thuốc lá chính là nguyên nhân gây ra ung thư phổi phổ biến nhất.

Theo Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ, hút thuốc lá đóng góp đến 90 % số ca tử vong do ung thư phổi. Những người đàn ông hút thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi cao gấp 23 lần và phụ nữ có nguy cơ mắc ung thư phổi gấp 13 lần so với những người không hút thuốc.

Và những người hút thuốc không chỉ tự hại mình, bởi hàng ngàn người chết mỗi năm là do hít phải khói thuốc thụ động. Những người không hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư phổi cao hơn 20-30% nếu họ thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc lá (3).

Những khẩu hiệu cảnh báo trên vỏ bao thuốc lá hiện nay đang ở khắp mọi nơi, nhưng trong suốt một thời gian dài, mối liên hệ giữa hút thuốc lá và ung thư phổi đã bị các nhóm lợi ích có quyền thế ém nhẹm đi – giống như việc ngày nay, mối quan hệ giữa một số loại thực phẩm với những tác nhân giết người hàng đầu khác cũng bị giấu đi.

Ví dụ, trong những năm 80, Philip Morris, nhà sản xuất thuốc lá hàng đầu trên thế giới, đã đề xuất dự án Whitecoat nổi tiếng. Họ đã thuê các bác sĩ để xuất bản các nghiên cứu “ma” nhằm phủ định mối liên hệ giữa khói thuốc lá và bệnh phổi.

Sau đó, hàng loạt những bài viết lấy thông tin từ những nghiên cứu khoa học “ma” này được tung ra để che giấu và bóp méo các chứng cứ chứng minh sự nguy hiểm của hút thuốc gián tiếp. Sự “tẩy não” này, cùng với chiến dịch tiếp thị thông minh của ngành công nghiệp thuốc lá, bao gồm quảng cáo dưới dạng phim hoạt hình, đã khiến các thế hệ người Mỹ cắn câu và sử dụng sản phẩm của họ (4)

Nếu bạn bất chấp tất cả các bằng chứng và cảnh báo và hiện đang hút thuốc, bước quan trọng nhất bạn có thể làm là hãy dừng lại. Ngay bây giờ. Làm ơn!. Bạn sẽ thấy lợi ích của việc bỏ thuốc lá ngay lập tức.

Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, chỉ hai mươi phút sau khi bỏ thuốc, nhịp tim và huyết áp sẽ giảm. Trong vòng vài tuần, sự tuần hoàn máu và chức năng phổi của bạn sẽ cải thiện. Trong vòng vài tháng, các tế bào quét qua sẽ giúp làm sạch phổi, loại bỏ chất nhầy, và giảm nguy cơ nhiễm trùng phát triển lại. Và trong vòng một năm bỏ thuốc lá, nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành do hút thuốc sẽ giảm đi một nửa so với những người hút thuốc lá ở thời điểm hiện tại. 5

Cơ thể con người có một khả năng chữa bệnh thần kỳ miễn là chúng ta không tiếp tục làm tổn thương nó. Những thay đổi đơn giản về chế độ ăn uống có thể giúp làm giảm nguy cơ gây ra bởi các chất gây ung thư trong khói thuốc lá.

Ăn nhiều bông cải xanh (súp lơ xanh) giúp phòng chống ung thư phổi

Đầu tiên, quan trọng là chúng ta cần hiểu những ảnh hưởng độc hại của thuốc lá tới phổi. Khói thuốc lá chứa các chất làm suy yếu hệ thống miễn dịch của cơ thể, làm cho cơ thể dễ bị bệnh tật hơn và giảm khả năng phá hủy các tế bào ung thư. Đồng thời, khói thuốc lá có thể làm hỏng DNA của tế bào, làm tăng cơ hội cho tế bào ung thư hình thành và phát triển ngay từ đầu (6).

Để kiểm tra khả năng của các biện pháp can thiệp bằng ăn uống nhằm ngăn ngừa sự phá hủy DNA, các nhà khoa học thường nghiên cứu những người hút thuốc mãn tính. Các nhà nghiên cứu đã tập hợp một nhóm người hút thuốc lâu năm và yêu cầu họ ăn bông cải xanh nhiều gấp 25 lần so với người Mỹ bình thường – nói cách khác, một cây cải một ngày.

So với người hút thuốc lá và không ăn bông cải xanh, những người hút thuốc lá và ăn loại rau này ít bị đột biến DNA trong máu hơn tới 41% sau 10 ngày. Có phải là chỉ vì bông cải xanh thúc đẩy hoạt động của các enzyme thải độc trong gan, giúp loại bỏ các chất gây ung thư trước khi chúng tiến vào tế bào của người hút thuốc?

Câu trả lời là không, vì ngay cả khi DNA đã được chiết xuất từ ​​cơ thể của các đối tượng nghiên cứu và phơi nhiễm với một hóa chất gây tổn thương DNA, chất liệu di truyền từ những người ăn bông cải xanh đã cho thấy thiệt hại ít hơn đáng kể, cho thấy rằng ăn loại rau giống như bông cải xanh có thể làm các tế bào bền bỉ hơn (7).

Bây giờ, đừng nghĩ rằng điều này có nghĩa là ăn một cây bông cải xanh trước khi hút một gói Marlboro đỏ sẽ hoàn toàn loại bỏ các tác dụng gây ung thư của khói thuốc lá. Điều đó là hoàn toàn sai lầm! Nhưng khi bạn đang cố gắng bỏ thuốc lá, các loại rau như bông cải xanh, cải bắp và súp lơ có thể giúp ngăn ngừa các tổn thương.

Lợi ích của họ nhà bông cải xanh (họ cải) không chỉ dừng lại ở đó. Trong khi ung thư vú là dạng ung thư nội phổ biến nhất đối với phụ nữ Mỹ, ung thư phổi mới thực sự là kẻ giết người hàng đầu. Khoảng 85% phụ nữ bị ung thư vú vẫn còn sống trong năm năm sau khi chẩn đoán, nhưng con số này sẽ đảo ngược khi nói đến ung thư phổi: 85% phụ nữ tử vong trong vòng 5 năm sau khi chẩn đoán ung thư phổi. 90% số ca tử vong là do di căn – khi tế bào ung thư lan truyền đến các bộ phận khác của cơ thể (8). May thay, một số hợp chất nhất định trong bông cải xanh có thể có khả năng ngăn chặn sự di căn này.

Trong một nghiên cứu năm 2010, các nhà khoa học đã đặt một lớp các tế bào ung thư phổi ở người trong một đĩa petri và lau sạch để tạo một lỗ hổng ở giữa. Trong vòng 24 giờ, các tế bào ung thư đã co lại với nhau, và trong vòng ba mươi giờ, lỗ hổng này đã khép lại hoàn toàn.

Tuy nhiên, khi các nhà khoa học nhỏ vài giọt chiết xuất từ rau họ cải lên các tế bào ung thư, sự co cụm của các tế bào ung thư đã bị kìm hãm (9).  Dù việc ăn bông cải xanh có giúp kéo dài thời gian sống sót của bệnh nhân ung thư hay không chưa được thử nghiệm trong các thí nghiệm lâm sàng, nhưng điều tuyệt vời về các chế độ ăn uống lành mạnh là chúng  không có nhược điểm, nên có thể sử dụng song song biện pháp can thiệp bằng ăn uống vào bất kỳ phương pháp điều trị nào mà bệnh nhân lựa chọn.

Cải xoăn giúp đẩy lùi các nguy hại của việc hút thuốc lá

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng cải xoăn – loại rau lá có màu xanh đậm vốn được phong là “nữ hoàng rau xanh” – có thể giúp kiểm soát nồng độ cholesterol.

Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm với 30 người đàn ông với hàm lượng cholesterol cao và yêu cầu họ ăn 3 đến 4 lần nước rau cải xoăn mỗi ngày trong vòng 3 tháng. Điều này tương đương với 13.5 kg cải xoăn – lượng cải mà một người Mỹ trung bình ăn trong một thế kỷ.  Và chuyện gì đã xảy ra? Những người đàn ông đó biến thành màu xanh và bắt đầu quang hợp chăng?

Dĩ nhiên là không. Những gì mà cải xoăn đã làm được là giảm đáng kể cholesterol có hại (LDL) và thúc đẩy lượng cholesterol có lợi (HDL) (10) của họ nhiều ngang với việc chạy bộ 300 dặm (11).

Khi kết thúc nghiên cứu, các hoạt động chống oxy hóa trong máu của hầu hết những người tham gia đều tăng mạnh. Kì lạ là, hoạt động chống oxy hoá trong cơ thể của những người hút thuốc vẫn không đổi.

Nguyên nhân là do chính các gốc tự do tạo ra bởi thuốc lá được cho là đã làm suy yếu các chất chống oxy hoá. Nếu bạn biết rằng thói quen hút thuốc có thể xóa bỏ hiệu quả chống oxy hóa của 800 cốc nước ép cải xoăn, thì đó chính là lúc bạn cần phải bỏ thuốc lá.

Khả năng ngăn chặn ung thư của củ nghệ

Củ nghệ là một loại gia vị Ấn Độ, khiến cho bột cà ri có màu vàng đặc trưng của nó, cũng có thể giúp ngăn ngừa sự phá hủy DNA gây ra bởi việc hút thuốc lá.

Từ năm 1987, Viện Ung thư Quốc gia đã kiểm tra hơn một nghìn hợp chất khác nhau cho việc “chống lại ung thư”. Chỉ có vài chục chất trong số chúng đến được các thử nghiệm lâm sàng, và một trong số những chất có triển vọng nhất là curcumin, loại sắc tố vàng tươi trong nghệ (12).

Các chất chống ung thư có thể được phân thành các nhóm khác nhau dựa trên giai đoạn phát triển nào của ung thư mà chúng có thể can thiệp được: Các chất chống ung thư và chống oxy hoá giúp ngăn ngừa đột biến DNA khởi phát ban đầu và các chất kìm hãm phân chia sẽ hoạt động bằng cách giữ các khối u không phát triển và lan rộng.

Curcumin đặc biệt ở chỗ nó thuộc về tất cả các nhóm kể trên, có nghĩa là nó có thể giúp ngăn ngừa và / hoặc làm kìm hãm sự phát triển tế bào ung thư (13).

Các nhà nghiên cứu đã điều tra tác động của curcumin lên khả năng biến đổi DNA của các chất gây ung thư khác nhau và phát hiện ra curcumin thực sự là một chất chống đột biến, có thể kháng lại một số chất gây ung thư phổ biến (14).

Nhưng những thí nghiệm này được thực hiện in vitro (“trong ống nghiệm”), có nghĩa là nó có hiệu quả trong ống nghiệm. Tuy nhiên, sẽ là một hành động phi đạo đức nếu phơi nhiễm con người với các chất gây ung thư để quan sát xem họ có bị ung thư hay không. Dù vậy, đã có người nêu ý tưởng sáng tạo trong việc tìm kiếm ra một nhóm người, theo cách riêng của họ, đã tự có sẵn chất gây ung thư chảy trong huyết quản của họ. Những người hút thuốc!

Có một cách để đo nồng độ chất hoá học làm biến đổi DNA trong cơ thể một người là nhỏ nước tiểu vào vi khuẩn đang phát triển trong một đĩa petri. Vi khuẩn, giống như tất cả vật sống khác trên trái đất, chia sẻ DNA như một ngôn ngữ di truyền thông thường.

Không có gì ngạc nhiên khi các nhà khoa học đã thực hiện thí nghiệm này cho biết rằng nước tiểu của những người không hút thuốc xảy ra ít đột biến DNA hơn – họ có ít chất gây ung thư trong cơ thể hơn. Nhưng khi những người hút thuốc sử dụng củ nghệ, tỷ lệ đột biến DNA đã giảm xuống 38% (15).

Họ không phải uống loại thuốc bổ sung curcumin nào mà chỉ sử dụng hơn một thìa cà phê loại gia vị nghệ mà bạn hoàn toàn có thể tìm thấy tại cửa hàng tạp hóa. Tất nhiên, nghệ không thể loại bỏ hết tác động của việc hút thuốc.

Ngay cả sau khi những người tham gia ăn nghệ trong một tháng, khả năng gây tổn thương DNA trong nước tiểu của người hút thuốc vẫn cao hơn hẳn những người không hút thuốc. Tuy nhiên, những người hút thuốc sử dụng nghệ như thành phần chủ yếu trong chế độ ăn uống của họ có thể giúp giảm bớt một vài phần tác động của khói thuốc.

Tác dụng chống ung thư của curcumin vượt ra ngoài khả năng ngăn ngừa đột biến DNA của chính nó. Chất này giúp điều chỉnh sự chết của tế bào đã được lập trình sẵn. Các tế bào của bạn được lập trình từ trước để chết đi, nhường chỗ cho các tế bào mới thông qua quá trình gọi là apoptosis – sự chết tế bào.

Theo một nghĩa nào đó, cơ thể bạn sẽ tự thiết lập lại sau mỗi thời gian vài tháng (16) sử dụng nguyên liệu mà bạn cung cấp cho nó qua chế độ ăn hàng ngày. Tuy nhiên, một số tế bào ở lại quá thời gian quy định của chúng – cụ thể là, tế bào ung thư.

Bằng cách nào đó chúng đã vô hiệu hóa cơ chế tự chết của mình và không chết khi đến thời điểm đáng lẽ phải chết. Bởi vì chúng tiếp tục phát triển và phân tách, các tế bào ung thư cuối cùng sẽ thành khối u và có thể lan truyền khắp cơ thể.

Vậy curcumin ảnh hưởng như thế nào đến quá trình này? Dường như chất này có khả năng tái lập trình cơ chế tự huỷ diệt trong tế bào ung thư. Tất cả các tế bào đều có phần gọi là thụ thể tự hủy dẫn đến sự chết của chúng, nhưng các tế bào ung thư có thể vô hiệu hóa thụ thể tự hủy của chúng.

Curcumin, tuy vậy, có thể kích hoạt lại các thụ thể đó (17). Curcumin cũng có thể loại bỏ tế bào ung thư trực tiếp bằng cách kích hoạt các “enzyme hành pháp” có tên là caspases nằm bên trong các tế bào ung thư và là enzym có khả năng phá hủy tế bào đó từ bên trong bằng cách tách nhỏ các protein của tế bào (18).

Khác với hầu hết các loại thuốc hóa trị liệu – khi sử dụng có thể khiến tế bào ung thư phát triển sức đề kháng theo thời gian, curcumin ảnh hưởng đến một số cơ chế của sự chết tế bào cùng một lúc, khiến tế bào ung thư dễ bị tự hủy hơn (19).

Curcumin đã được chứng minh là có hiệu quả chống lại một loạt các tế bào ung thư khác trong ống nghiệm, bao gồm các tế bào ung thư vú, não, máu, ruột, thận, gan, phổi và da. Hiện tại, các nhà khoa học vẫn chưa lý giải được tại sao curcumin dường như không tác động gì dến các tế bào không ung thư (20).

Không may là, nghệ vẫn chưa được sử dụng trong các thử nghiệm lâm sàng về phòng ngừa hoặc điều trị ung thư phổi nên cũng không có khuyến cáo gì về liều lượng sử dụng nghệ trong nấu ăn. Do đó, tôi khuyên bạn nên tìm cách để kết hợp loại gia vị này vào chế độ ăn uống của bạn.

Hít khói gián tiếp từ nấu ăn gây ung thư

Mặc dù phần lớn ung thư phổi là do hút thuốc lá, nhưng khoảng ¼ trường hợp xảy ra ở những người chưa bao giờ hút thuốc (21). Mặc dù có một số trường hợp trong đó là do hút thuốc thụ động, nguyên nhân còn lại có thể là một chất gây ung thư: khói từ việc chiên rán.

Khi chất béo được nung nóng đến nhiệt độ cao để chiên rán, cho dù đó là mỡ động vật, như mỡ lợn, hay là dầu thực vật, thì các hóa chất dạng khí độc hại có đặc tính biến đổi (những chất có khả năng gây ra đột biến di truyền) luôn được giải phóng vào không khí (22).

Điều này có thể xảy ra ngay cả trước khi đạt đến nhiệt độ “điểm khói ” (23). Nếu bạn chiên rán ở nhà, việc thông gió trong nhà bếp có thể làm giảm nguy cơ ung thư phổi (24).

Nguy cơ ung thư cũng có thể phụ thuộc vào việc chúng ta chiên rán món gì. Một nghiên cứu về phụ nữ ở Trung Quốc cho thấy những người hít khói từ món thịt xào hàng ngày có tỷ lệ mắc ung thư phổi cao gấp 3 lần so với những người hít khói khi xào các loại thực phẩm khác không phải thịt (25).

Điều này được cho là do nhóm chất gây ung thư được gọi là amin dị vòng được hình thành khi mô cơ gặp nhiệt độ cao.

Ảnh hưởng của khói thịt có thể khó phân biệt với ảnh hưởng của việc ăn thịt, nhưng một nghiên cứu gần đây thực hiện với phụ nữ có thai và việc nướng thịt đã cố gắng tách biệt chúng. Khi thịt được nướng, các hợp chất thơm đa vòng (PAHs) được sinh ra, và đây là một trong những chất gây ung thư có trong khói thuốc lá.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng không chỉ ăn thịt nướng trong giai đoạn thai kỳ thứ 3 mới dẫn đến cân nặng trẻ sơ sinh nhỏ hơn, mà các bà mẹ chỉ cần tiếp xúc với khói cũng có khuynh hướng sinh con bị thiếu cân. Tiếp xúc với loại khói này cũng dẫn đến kích thước đầu, đồng nghĩa với trọng lượng não bộ của trẻ nhỏ hơn (26).

Các nghiên cứu về ô nhiễm không khí cho thấy việc tiếp xúc với hợp chất thơm đa vòng có thể dẫn đến những ảnh hưởng bất lợi đối với sự phát triển nhận thức của trẻ trong tương lai (thể hiện ở việc chỉ số IQ thấp hơn đáng kể) (27).

Ngay cả việc sống bên cạnh một nhà hàng cũng có thể gây nguy hiểm cho sức khoẻ. Các nhà khoa học cũng nhìn thấy nguy cơ ung thư vĩnh viễn ở những người sống gần các ống khói của các nhà hàng và các khu đồ nướng.

Tiếp xúc với khói từ các loại nhà hàng này đều dẫn đến việc phơi nhiễm với nồng độ PAHs không an toàn, đặc biệt là với các món nướng được chế biến từ cá (28). Nguyên nhân là do khói từ cá rán đã được tìm thấy có chứa nồng độ PAHs cao có khả năng làm hỏng DNA của tế bào phổi người (29).

Do nguy cơ ung thư vượt mức cho phép, các nhà nghiên cứu kết luận rằng sẽ không an toàn khi sống gần ống thoát khói của một nhà hàng Trung Quốc dù chỉ phải hít khói một, hai ngày trong tháng (30).

Còn mùi thơm hấp dẫn của thịt xông khói còn đang nóng hổi? Khói được sinh ra khi rán thịt xông khói có chứa một loại chất gây ung thư tên là nitrosamines (31). Mặc dù tất cả các loại thịt đều có thể giải phóng ra các loại khói có khả năng gây ung thư, những loại thịt đã chế biến như thịt xông khói mới là điều tồi tệ nhất.

Một nghiên cứu của UC-Davis cho thấy khói từ thịt xông khói gây đột biến DNA gấp 4 lần so với khói từ thịt bò chiên rán ở nhiệt độ tương tự (32).

Các nhà nghiên cứu đề xuất rằng những phát hiện này có thể giải thích cho tỷ lệ mắc bệnh hô hấp và ung thư phổi cao hơn ở những người nấu ăn và tỷ lệ này thấp hơn ở những người ăn chay (33).

Nếu bạn vẫn muốn ăn thịt xông khói hoặc trứng chiên, sẽ an toàn hơn khi hạn chế tiếp xúc với khói bằng cách nấu nướng ngoài trời. Vì các nghiên cứu cho thấy nấu nướng ở bên ngoài trời làm giảm số lượng các hạt tích tụ trong phổi gấp 10 lần khi chiên rán trong nhà (34).

ĂN GÌ ĐỂ KHÔNG BỊ CHẾT VÌ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), như khí thũng và viêm phế quản mãn tính, là một tình trạng khiến chúng ta khó thở và sẽ ngày càng tệ hơn theo thời gian. Ngoài hơi thở ngắn, COPD có thể gây ho nặng, tạo nhiều dịch nhầy, thở khò khè, và đau thắt ngực. Bệnh này gây ảnh hưởng đến hơn 24 triệu người Mỹ (35).

Hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây COPD, nhưng các yếu tố khác cũng có thể gây bệnh, chẳng hạn như tiếp xúc với không khí ô nhiễm trong thời gian dài. Thật không may, không có thuốc chữa dứt điểm COPD, nhưng tin tốt là: Một chế độ ăn uống lành mạnh có thể giúp ngăn ngừa bệnh COPD và đảm bảo bệnh không trở nặng hơn.

Số liệu thống kê từ 50 năm trước tới giờ cho thấy ăn nhiều trái cây và rau củ có tác động tích cực tới chức năng phổi (36). Chỉ cần mỗi ngày ăn một quả cũng có thể làm giảm nguy cơ tử vong do COPD đến hơn 24% (37).

Mặt khác, một cặp nghiên cứu từ Đại học Columbia và Đại học Harvard đã phát hiện ra rằng việc tiêu thụ thịt xông khói, dăm bông, xúc xích, salami – có thể làm tăng nguy cơ mắc COPD (38) (39). Điều này được cho rằng là do chất bảo quản nitrit có trong thịt – một chất có thể bắt chước tính chất phá hủy lá phổi của các phụ phẩm nitrit trong khói thuốc lá (40).

Nếu bạn đã mắc bệnh thì sao? Các loại thực phẩm giúp ngăn ngừa COPD liệu có thể sử dụng để điều trị bệnh không? Chúng tôi không thể biết được điều đó cho đến khi một nghiên cứu bước ngoặt được xuất bản trong năm 2010.

Hơn một trăm bệnh nhân COPD được phân ngẫu nhiên thành hai nhóm – một nửa đã được hướng dẫn tăng cường ăn trái cây và rau củ, trong khi những người khác vẫn duy trì chế độ ăn uống bình thường của họ.

Trong ba năm tiếp theo, những bệnh nhân với chế độ ăn uống thông thường gặp tình trạng tệ hơn, giống như dự đoán ban đầu. Ngược lại, với nhóm tiêu thụ nhiều rau củ, hoa quả, sự tiến triển của bệnh đã tạm dừng.

Chức năng phổi của họ không chỉ không bị kém đi, mà nó còn thực sự được cải thiện một chút. Các nhà nghiên cứu gợi ý rằng điều này có thể là do sự kết hợp của chất chống oxy hoá và các tác động chống viêm của trái cây và rau củ, cùng với việc giảm ăn thịt (41).

Bất kể là do cơ chế nào, thì chế độ ăn với nhiều thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật hơn có thể giúp phòng ngừa và ngăn chặn sự tiến triển của kẻ giết người hàng đầu này.

ĂN GÌ ĐỂ KHÔNG BỊ CHẾT VÌ BỆNH HEN SUYỄN

Hen suyễn là một chứng bệnh viêm đặc trưng bởi đường thở bị co thắt hoặc sưng phồng thường xuyên, dẫn đến thở dốc, thở khò khè và ho. Hen suyễn có thể bắt đầu ở mọi lứa tuổi, nhưng thường xuất hiện từ thời thơ ấu.

Đây là một trong những bệnh mãn tính phổ biến nhất ở trẻ em, tỷ lệ mắc hen suyễn đã tăng lên sau từng năm (42). Ở Mỹ có đến 25 triệu người bị hen suyễn, và 7 triệu người trong số đó là trẻ em (43).

Một nghiên cứu đột phá gần đây đã chứng minh rằng tỷ lệ hen có sự khác biệt đáng kể ở các vùng khác nhau trên toàn thế giới. Nghiên cứu quốc tế về bệnh hen và dị ứng ở trẻ em đã theo dõi hơn một triệu trẻ em ở gần một trăm quốc gia, khiến nó trở thành lần điều tra toàn diện nhất trong lịch sử về căn bệnh này.

Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ mắc hen suyễn, dị ứng và chàm chênh lệch giữa các vùng từ 20 đến 60 lần (44).  Tại sao tỷ lệ hiện mắc của viêm giác mạc dị ứng (ngứa mắt và chảy nước mũi) dao động từ 1 phần trăm số trẻ em tại một số vùng ở Ấn Độ, cho đến 45% ở những nơi khác? (45).

Trong khi các yếu tố như ô nhiễm không khí và tỷ lệ hút thuốc cũng có góp phần trong việc đó, thì quan trọng nhất không phải là với những gì đi vào trong phổi, mà là những gì đã được đưa vào dạ dày của chúng (46).

Thanh thiếu niên sống ở những nơi ăn nhiều thực phẩm có nhiều tinh bột, ngũ cốc, rau củ và các loại hạt ít biểu hiện các triệu chứng như thở khò khè, viêm giác mạc dị ứng và bệnh chàm dị ứng hơn (47).

Những bé trai và bé gái ăn hai hoặc nhiều khẩu phần rau hơn trong ngày chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ mắc bệnh hen suyễn dị ứng (48). Nói chung, tỷ lệ mắc bệnh hen và các triệu chứng hô hấp dường như thấp hơn ở những người ăn nhiều thực phẩm có nguồn gốc thực vật (49).

Thực phẩm có nguồn gốc động vật có thể làm tăng nguy cơ mắc hen suyễn. Nghiên cứu trên hơn một trăm nghìn người lớn ở Ấn Độ cho thấy những người hàng ngày, hay thậm chí thỉnh thoảng ăn thịt, có nguy cơ mắc bệnh suyễn nhiều hơn đáng kể so với những người đã loại bỏ hoàn toàn thịt và trứng khỏi chế độ ăn uống của họ (50).

Trứng (cùng với nước giải khát) cũng góp phần vào các cơn hen ở trẻ em, đi cùng với các triệu chứng hô hấp như thở khò khè, thở dốc, và ho khi vận động mạnh (51). Bỏ trứng và sữa khỏi chế độ ăn uống đã được chứng minh là cải thiện chức năng phổi của trẻ bị hen ở trẻ khoảng tám tuần tuổi (52).

Cơ chế mà chế độ ăn uống ảnh hưởng đến viêm đường hô hấp có thể liên quan đến lớp chất lỏng mỏng tạo nên sự phân cách giữa bề mặt đường hô hấp và không khí bên ngoài. Các chất chống oxy hoá từ trái cây và rau sẽ hoạt động như là hàng tiền vệ của bạn để chống lại các gốc tự do góp phần gây ra tình trạng mẫn cảm, co thắt đường thở và sinh dịch nhầy ở bệnh nhân hen suyễn (53).

Các sản phẩm phụ của quá trình oxy hóa có thể được đo trong hơi thở của chúng ta và lượng này có thể được giảm đáng kể bằng cách chuyển sang chế độ ăn nhiều thực vật hơn (54).

Vậy thì, nếu bệnh nhân hen suyễn ăn ít trái cây và rau củ, liệu chức năng phổi của họ có suy giảm không? Các nhà nghiên cứu ở Úc đã cố gắng loại bỏ trái cây và rau củ khỏi chế độ ăn uống của bệnh nhân hen suyễn để xem điều gì sẽ xảy ra.

Trong vòng hai tuần, triệu chứng hen suyễn đã tăng lên đáng kể. Điều thú vị là chế độ ăn ít trái cây, ít rau đã được sử dụng trong nghiên cứu này lại là chế độ ăn uống điển hình ở phương Tây. Nói cách khác, chế độ ăn mà họ sử dụng trong thí nghiệm nhằm làm suy giảm chức năng phổi và khiến cơn hen suyễn của bệnh nhân trở nặng hơn lại chính là chế độ ăn uống tiêu chuẩn của người Mỹ (55).

Vậy sẽ ra sao nếu ta cải thiện bệnh hen suyễn bằng cách bổ sung thêm trái cây và rau củ? Các nhà nghiên cứu lặp lại thử nghiệm, nhưng lần này họ tăng lượng trái cây và rau củ của bệnh nhân lên 7 khẩu phần mỗi ngày. Hành động đơn giản là bổ sung thêm một ít trái cây và rau củ vào chế độ ăn uống hàng ngày của họ đã làm giảm sự trầm trọng của bệnh xuống còn một nửa (56). Đó chính là sức mạnh của việc ăn uống lành mạnh.

Nếu vấn đề chỉ xoay quanh chất chống oxy hoá, vậy chúng ta chỉ cần uống thuốc bổ sung hoặc thực phẩm chức năng có chứa chất chống oxy hóa là được? Bởi lẽ, uống một viên thuốc vẫn dễ dàng hơn là ăn một quả táo. Câu trả lời cho điều này rất đơn giản: Thuốc bổ sung không có tác dụng.

Các nghiên cứu đã nhiều lần chỉ ra rằng các loại thuốc bổ sung chất chống oxy hoá không có tác dụng đối với các bệnh hô hấp hoặc dị ứng, kết quả này nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ăn thực phẩm toàn phần (thô, nguyên)  hơn là chỉ sử dụng các chất cấu thành đơn lẻ hoặc chiết xuất của chất đó dưới hình thức thuốc viên (57).

Theo Nghiên cứu Sức khỏe của Harvard Nurses cho thấy những người phụ nữ hấp thu vitamin E từ chế độ ăn nhiều loại hạt thường có nguy cơ mắc hen suyễn thấp hơn một nửa so với những người không ăn, tuy nhiên những người chỉ uống thuốc bổ sung vitamin E thì không thấy có ích lợi gì (58).

Bạn nghĩ ai sẽ đạt kết quả tốt hơn trong thí nghiệm sau? Một nhóm bệnh nhân hen suyễn mỗi ngày ăn 7 khẩu phần rau quả hay một nhóm ăn ba phần ăn cộng với mười lăm “khẩu phần tương đương” dưới dạng thuốc viên?

Hẳn vậy, các viên thuốc dường như không giúp ích gì cả. Cải thiện chức năng phổi và kiểm soát hen suyễn hiển nhiên chỉ xuất hiện khi bệnh nhân tăng khẩu phần rau củ “thật”, cho thấy rằng việc tiêu thụ thực phẩm toàn phần (thô, nguyên) là điều tối quan trọng (59).

Nếu bổ sung một ít trái cây và rau củ hàng ngày có thể có tác động đáng kể như vậy, liệu người mắc bệnh hen suyễn có nên chỉ ăn mỗi thực phẩm từ thực vật? Các nhà nghiên cứu ở Thụy Điển đã quyết định thử nghiệm chế độ ăn nghiêm ngặt chỉ gồm thực  phẩm thực vật trên một nhóm bệnh nhân mắc hen suyễn nặng, những người không có chuyển biến gì dù đã áp dụng những liệu pháp y khoa tốt nhất.

Nhóm bệnh nhân này bao gồm 35 bệnh nhân bị hen suyễn lâu năm, đã qua kiểm tra vật lý; 20 người trong số đó đã phải nhập viện do những lần phát bệnh cấp tính trong suốt 2 năm trước đó. Một bệnh nhân đã phải tiêm truyền tĩnh mạch tổng cộng 23 lần, một người khác báo cáo anh đã phải nhập viện hơn 100 lần, và một người thậm chí đã bị ngừng tim sau một đợt hen và phải được cấp cứu rồi đặt máy thở (60). Đó là một số trường hợp khá nghiêm trọng.

Trong số 24 bệnh nhân phải áp dụng chế độ ăn toàn thực phẩm thực vật, 70 % trong số họ cải thiện tình trạng bệnh sau bốn tháng, và 90 % cải thiện trong vòng một năm. Vào năm trước khi thực hiện chế độ ăn uống từ thực vật này, tất cả những người này đã không có bất cứ cải thiện nào về tình trạng sức khỏe (61).

Chỉ trong vòng một năm ăn uống lành mạnh hơn, tất cả ngoại trừ hai bệnh nhân đều có thể giảm liều thuốc hen suyễn hoặc ngừng sử dụng steroid và các loại thuốc khác của họ. Các chỉ số đo lường liên quan đến chức năng phổi hay khả năng lao động thể chất đều được cải thiện; trong khi đó, ý kiến một số bệnh nhân cho biết sự cải thiện của họ đáng kể đến mức cảm thấy như “họ đã có một cuộc sống mới” (62).

Không có nhóm phản chứng, vì vậy biết đâu việc sử dụng giả dược cũng có thể tạo ra một số cải thiện, nhưng điều tuyệt vời về chế độ ăn uống lành mạnh là chúng chỉ có ưu điểm. Ngoài việc cải thiện quá trình kiểm soát hen suyễn, các đối tượng nghiên cứu còn giảm được trung bình 8 kg, đồng thời nồng độ cholesterol và huyết áp của họ cũng có chuyển biến tốt. Xem xét từ quan điểm rủi ro-lợi ích, thì, việc áp dụng chế độ ăn uống thực phẩm thực vật rất đáng để bạn thử.

KẾT LUẬN

Các loại bệnh phổi gây chết người thường khác nhau rất nhiều trong biểu hiện và dự đoán. Như đã nói, hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây ra ung thư phổi và COPD, nhưng các bệnh như hen suyễn thường phát triển từ thời thơ ấu và có thể liên quan đến một loạt các yếu tố như: trẻ sơ sinh nhẹ cân và các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp thường xuyên.

Trong khi bỏ hút thuốc vẫn là cách hiệu quả nhất để phòng tránh các loại bệnh phổi tồi tệ nhất, chúng ta cũng có thể giúp cơ thể tăng cường sức đề kháng bằng cách ăn chế độ nhiều thực phẩm thực vật. Chế độ ăn này có vẻ như đã giúp được các bệnh nhân hen nặng, nên nó cũng có thể giúp ngăn ngừa cả ba bệnh kể trên ngay từ đầu.

Nếu bạn là một trong số những người đã bị bệnh phổi, việc bỏ thuốc lá và thay đổi chế độ ăn uống của bạn vẫn có thể tạo ra sự khác biệt cho sức khỏe. Không bao giờ là quá muộn để bắt đầu sống và ăn uống lành mạnh.

Khả năng phục hồi của cơ thể con người là vô cùng tuyệt vời, nhưng cơ thể rất cần đến sự giúp đỡ của bạn. Bằng cách bổ sung các loại thực phẩm chứa các hợp chất chống ung thư và ăn thật nhiều trái cây, rau củ giàu chất chống oxy hoá, bạn có thể tăng cường sức khỏe hệ thống hô hấp và việc hít thở cũng dễ dàng hơn.

Michael Greger, M.D.,

Hãy cho chúng tôi biết suy nghĩ của bạn về bài viết này thông qua việc để lại comment ở dưới đây. Nếu bạn thấy bài viết hữu ích hãy like và share ngay nhé.

Danh mục tài liệu tham khảo từ các công trình nghiên cứu, bằng chứng khoa học:

1. American Cancer Society. Cancer Facts & Figures 2015. Atlanta: American Cancer Society; 2015.

2. Howlader N, Noone AM, Krapcho M, et al., eds. SEER Cancer Statistics Review, 1975–2011, National Cancer Institute. http://seer.cancer.gov/csr/1975_2011/. April 2014. Accessed February 27, 2015.

3. American Lung Association. Lung Cancer Fact Sheet. http://www.lung.org/lung-disease/lung-cancer/resources/facts-figures/lung-cancer-fact-sheet.html. 2015. Accessed February 14, 2015.

4. Moodie R, Stuckler D, Monteiro C, et al. Profits and pandemics: prevention of harmful effects of tobacco, alcohol, and ultra-processed food and drink industries. Lancet. 2013;381(9867):670–9.

5. American Cancer Society. When smokers quit—what are the benefits over time? http://www.cancer.org/healthy/stayawayfromtobacco/guidetoquittingsmoking/guide-to-quitting-smoking-benefits. 6 February 2015. Accessed February 26, 2015.

6. US Department of Health and Human Services. A Report of the Surgeon General. How Tobacco Smoke Causes Disease: What It Means to You. Atlanta: US Department of Health and Human Services, Centers for Disease Control and Prevention, National Center for Chronic Disease Prevention and Health Promotion, Office on Smoking and Health, 2010.

7. Riso P, Martini D, Møller P, et al. DNA damage and repair activity after broccoli intake in young healthy smokers. Mutagenesis. 2010;25(6):595–602.

8. Gupta GP, Massagué J. Cancer metastasis: building a framework. Cell. 2006;127(4):679–95.

9. Wu X, Zhu Y, Yan H, et al. Isothiocyanates induce oxidative stress and suppress the metastasis potential of human non-small cell lung cancer cells. BMC Cancer. 2010;10:269.

10. Kim SY, Yoon S, Kwon SM, Park KS, Lee-Kim YC. Kale juice improves coronary artery disease risk factors in hypercholesterolemic men. Biomed Environ Sci. 2008;21(2):91–7.

11. Dressendorfer RH, Wade CE, Hornick C, Timmis GC. High-density lipoprotein-cholesterol in marathon runners during a 20-day road race. JAMA. 1982;247(12):1715–7.

12. Park W, Amin AR, Chen ZG, Shin DM. New perspectives of curcumin in cancer prevention. Cancer Prev Res (Phila). 2013;6(5):387–400.

13. Park W, Amin AR, Chen ZG, Shin DM. New perspectives of curcumin in cancer prevention. Cancer Prev Res (Phila). 2013;6(5):387–400.

14. Nagabhushan M, Amonkar AJ, Bhide SV. In vitro antimutagenicity of curcumin against environmental mutagens. Food Chem Toxicol. 1987;25(7):545–7.

15. Polasa K, Raghuram TC, Krishna TP, Krishnaswamy K. Effect of turmeric on urinary mutagens in smokers. Mutagenesis. 1992;7(2):107–9.

16. Ravindran J, Prasad S, Aggarwal BB. Curcumin and cancer cells: how many ways can curry kill tumor cells selectively? AAPS J. 2009;11(3):495–510.

17. Wu SH, Hang LW, Yang JS, et al. Curcumin induces apoptosis in human non-small cell lung cancer NCI-H460 cells through ER stress and caspase cascade- and mitochondria-dependent pathways. Anticancer Res. 2010;30(6):2125–33.

18. Su CC, Lin JG, Li TM, et al. Curcumin-induced apoptosis of human colon cancer colo 205 cells through the production of ROS, Ca2+ and the activation of caspase-3. Anticancer Res. 2006;26(6B):4379–89.

19. Ravindran J, Prasad S, Aggarwal BB. Curcumin and cancer cells: how many ways can curry kill tumor cells selectively? AAPS J. 2009;11(3):495–510.

20. Ravindran J, Prasad S, Aggarwal BB. Curcumin and cancer cells: how many ways can curry kill tumor cells selectively? AAPS J. 2009;11(3):495–510.

21. Pallis AG, Syrigos KN. Lung cancer in never smokers: disease characteristics and risk factors. Crit Rev Oncol Hematol. 2013;88(3):494–503.

22. Chiang TA, Wu PF, Wang LF, Lee H, Lee CH, Ko YC. Mutagenicity and polycyclic aromatic hydrocarbon content of fumes from heated cooking oils produced in Taiwan. Mutat Res. 1997;381(2):157–61.

23. Katragadda HR, Fullana A, Sidhu S, Carbonell-Barrachina AA. Emissions of volatile aldehydes from heated cooking oils. Food Chem. 2010;120(1):59–65.

24. Jin ZY, Wu M, Han RQ, et al. Household ventilation may reduce effects of indoor air pollutants for prevention of lung cancer: a case-control study in a Chinese population. PLoS ONE. 2014;9(7):e102685.

25. Seow A, Poh WT, Teh M, et al. Fumes from meat cooking and lung cancer risk in Chinese women. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev. 2000;9(11):1215–21.

26. Jedrychowski W, Perera FP, Tang D, et al. Impact of barbecued meat consumed in pregnancy on birth outcomes accounting for personal prenatal exposure to airborne polycyclic aromatic hydrocarbons: birth cohort study in Poland. Nutrition. 2012;28(4):372–7.

27. Perera FP, Li Z, Whyatt R, et al. Prenatal airborne polycyclic aromatic hydrocarbon exposure and child IQ at age 5 years. Pediatrics. 2009;124(2):e195–202.

28. Chen JW, Wang SL, Hsieh DP, Yang HH, Lee HL. Carcinogenic potencies of polycyclic aromatic hydrocarbons for back-door neighbors of restaurants with cooking emissions. Sci Total Environ. 2012;417–418:68–75.

29. Yang SC, Jenq SN, Kang ZC, Lee H. Identification of benzo[a]pyrene 7,8-diol 9,10-epoxide N2-deoxyguanosine in human lung adenocarcinoma cells exposed to cooking oil fumes from frying fish under domestic conditions. Chem Res Toxicol. 2000;13(10):1046–50.

30. Chen JW, Wang SL, Hsieh DP, Yang HH, Lee HL. Carcinogenic potencies of polycyclic aromatic hydrocarbons for back-door neighbors of restaurants with cooking emissions. Sci Total Environ. 2012 Feb 15;417–418:68–75.

31. Lijinsky W. N-Nitroso compounds in the diet. Mutat Res. 1999 Jul 15;443(1–2):129–38.

32. Thiébaud HP, Knize MG, Kuzmicky PA, Hsieh DP, Felton JS. Airborne mutagens produced by frying beef, pork and a soy-based food. Food Chem Toxicol. 1995;33(10):821–8.

33. Thiébaud HP, Knize MG, Kuzmicky PA, Hsieh DP, Felton JS. Airborne mutagens produced by frying beef, pork and a soy-based food. Food Chem Toxicol. 1995;33(10):821–8.

34. Mitsakou C, Housiadas C, Eleftheriadis K, Vratolis S, Helmis C, Asimakopoulos D. Lung deposition of fine and ultrafine particles outdoors and indoors during a cooking event and a no activity period. Indoor Air. 2007;17(2):143–52.

35. COPD Statistics across America. COPD Foundation website. http://www.copdfoundation.org/What-is-COPD/COPD-Facts/Statistics.aspx. 2015. Accessed February 14, 2015.

36. Tabak C, Smit HA, Räsänen L, et al. Dietary factors and pulmonary function: a cross sectional study in middle aged men from three European countries. Thorax. 1999;54(11):1021–6.

37. Walda IC, Tabak C, Smit HA, et al. Diet and 20-year chronic obstructive pulmonary disease mortality in middle-aged men from three European countries. Eur J Clin Nutr. 2002;56(7):638–43.

38. Varraso R, Jiang R, Barr RG, Willett WC, Camargo CA, Jr. Prospective study of cured meats consumption and risk of chronic obstructive pulmonary disease in men. Am J Epidemiol. 2007 Dec 15;166(12):1438–45.

39. Jiang R, Paik DC, Hankinson JL, Barr RG. Cured meat consumption, lung function, and chronic obstructive pulmonary disease among United States adults. Am J Respir Crit Care Med. 2007 Apr 15;175(8):798–804.

40. Jiang R, Camargo CA, Varraso R, Paik DC, Willett WC, Barr RG. Consumption of cured meats and prospective risk of chronic obstructive pulmonary disease in women. Am J Clin Nutr. 2008;87(4):1002–8.

41. Keranis E, Makris D, Rodopoulou P, et al. Impact of dietary shift to higher-antioxidant foods in COPD: a randomised trial. Eur Respir J. 2010;36(4):774–80.

42. Warner JO. Worldwide variations in the prevalence of atopic symptoms: what does it all mean? Thorax. 1999;54 Suppl 2:S46–51.

43. What Is Asthma? National Heart, Lung, and Blood Institute. http://www.nhlbi.nih.gov/health/health-topics/topics/asthma/. August 4, 2014. Accessed February 14, 2015.

44. Warner JO. Worldwide variations in the prevalence of atopic symptoms: what does it all mean? Thorax. 1999;54 Suppl 2:S46–51.

45. Aït-Khaled N, Pearce N, Anderson HR, et al. Global map of the prevalence of symptoms of rhinoconjunctivitis in children: The International Study of Asthma and Allergies in Childhood (ISAAC) Phase Three. Allergy. 2009;64(1):123–48.

46. Asher MI, Stewart AW, Mallol J, et al. Which population level environmental factors are associated with asthma, rhinoconjunctivitis and eczema? Review of the ecological analyses of ISAAC Phase One. Respir Res. 2010;11:8.

47. Ellwood P, Asher MI, Björkstén B, Burr M, Pearce N, Robertson CF. Diet and asthma, allergic rhinoconjunctivitis and atopic eczema symptom prevalence: an ecological analysis of the International Study of Asthma and Allergies in Childhood (ISAAC) data. ISAAC Phase One Study Group. Eur Respir J. 2001;17(3):436–43.

48. Protudjer JL, Sevenhuysen GP, Ramsey CD, Kozyrskyj AL, Becker AB. Low vegetable intake is associated with allergic asthma and moderate-to-severe airway hyperresponsiveness. Pediatr Pulmonol. 2012;47(12):1159–69.

49. Bime C, Wei CY, Holbrook J, Smith LJ, Wise RA. Association of dietary soy genistein intake with lung function and asthma control: a post-hoc analysis of patients enrolled in a prospective multicentre clinical trial. Prim Care Respir J. 2012;21(4):398–404.

50. Agrawal S, Pearce N, Ebrahim S. Prevalence and risk factors for self-reported asthma in an adult Indian population: a cross-sectional survey. Int J Tuberc Lung Dis. 2013 17(2):275–82.

51. Tsai HJ, Tsai AC. The association of diet with respiratory symptoms and asthma in schoolchildren in Taipei, Taiwan. J Asthma. 2007;44(8):599–603.

52. Yusoff NA, Hampton SM, Dickerson JW, Morgan JB. The effects of exclusion of dietary egg and milk in the management of asthmatic children: a pilot study. J R Soc Promot Health. 2004;124(2):74–80.

53. Wood LG, Garg ML, Blake RJ, Garcia-Caraballo S, Gibson PG. Airway and circulating levels of carotenoids in asthma and healthy controls. J Am Coll Nutr. 2005;24(6):448–55.

54. Miller ER, Appel LJ, Risby TH. Effect of dietary patterns on measures of lipid peroxidation: results from a randomized clinical trial. Circulation. 1998;98(22):2390–5.

55. Wood LG, Garg ML, Smart JM, Scott HA, Barker D, Gibson PG. Manipulating antioxidant intake in asthma: a randomized controlled trial. Am J Clin Nutr. 2012;96(3):534–43.

56. Wood LG, Garg ML, Smart JM, Scott HA, Barker D, Gibson PG. Manipulating antioxidant intake in asthma: a randomized controlled trial. Am J Clin Nutr. 2012;96(3):534–43.

57. Patel S, Murray CS, Woodcock A, Simpson A, Custovic A. Dietary antioxidant intake, allergic sensitization and allergic diseases in young children. Allergy. 2009;64(12):1766–72.

58. Troisi RJ, Willett WC, Weiss ST, Trichopoulos D, Rosner B, Speizer FE. A prospective study of diet and adult-onset asthma. Am J Respir Crit Care Med. 1995;151(5):1401–8.

59. Wood LG, Garg ML, Smart JM, Scott HA, Barker D, Gibson PG. Manipulating antioxidant intake in asthma: a randomized controlled trial. Am J Clin Nutr. 2012;96(3):534–43.

60. Lindahl O, Lindwall L, Spångberg A, Stenram A, Ockerman PA. Vegan regimen with reduced medication in the treatment of bronchial asthma. J Asthma. 1985;22(1):45–55.

61. Lindahl O, Lindwall L, Spångberg A, Stenram A, Ockerman PA. Vegan regimen with reduced medication in the treatment of bronchial asthma. J Asthma. 1985;22(1):45–55.

62. Lindahl O, Lindwall L, Spångberg A, Stenram A, Ockerman PA. Vegan regimen with reduced medication in the treatment of bronchial asthma. J Asthma. 1985;22(1):45–55.