Ăn Gì Để Không Chết Vì Các Bệnh Ung Thư Đường Tiêu Hóa

Ăn Gì Để Không Chết Vì Các Bệnh Ung Thư Đường Tiêu Hóa
5 (100%) 8 votes

Caroty.com trân trọng gửi đến bạn bài viết: Ăn Gì Để Không Chết Vì Các Bệnh Ung Thư Đường Tiêu Hóa

Mỗi năm, Mỹ mất hơn 5 triệu mạng sống do các bệnh ung thư vốn dĩ có thể phòng ngừa được. 1 Chỉ có một tỷ lệ nhỏ trong số tất cả các bệnh ung thư ở người là hoàn toàn do gene di truyền. Tỷ lệ còn lại liên quan đến các yếu tố khách quan, đặc biệt là chế độ ăn uống của chúng ta. 2

Làn da của bạn có diện tích khoảng 6 mét vuông. Phổi của bạn, nếu bạn đã trải phẳng tất cả các túi khí nhỏ trong đó ra, có thể chiếm đến hàng chục mét vuông. 3  Còn ruột của bạn thì sao? Sau khi đếm tất cả các nếp gấp nhỏ, một số nhà khoa học ước tính rằng ruột của bạn sẽ có thể phủ kín hàng trăm mét vuông, 4  thậm chí diện tích còn trải rộng hơn cả da và phổi cộng lại.

Những gì bạn ăn hoàn toàn có thể trở thành phương thức giao tiếp chính của bạn với thế giới bên ngoài. Điều này có nghĩa là nguyên nhân gây ung thư không chỉ phụ thuộc vào các chất gây ung thư được ẩn giấu trong môi trường, mà sự tiếp xúc lớn nhất với bệnh có thể là thông qua chế độ ăn uống của bạn.

Ba trong số các bệnh ung thư phổ biến nhất về đường tiêu hóa đã giết chết khoảng 100.000 người Mỹ mỗi năm.

Ung thư đại trực tràng (ruột kết và trực tràng), lấy đi 50.000 mạng sống mỗi năm, 5  được xếp vào một trong những loại ung thư được chẩn đoán nhiều nhất. Rất may, nó cũng là một trong những căn bệnh ung thư có khả năng điều trị được nếu phát hiện sớm.

Ung thư tuyến tụy, mặt khác, gần như là một bản án tử hình cho khoảng 46.000 người phát bệnh mỗi năm. 6 Rất ít người có thể sống hơn 1 năm sau khi chẩn đoán, điều đó có nghĩa: phòng bệnh là việc tối quan trọng.

Ung thư thực quản, gây ảnh hưởng đến ống tiêu hóa nối giữa miệng và dạ dày, cũng là tác nhân gây tử vong cho 18.000 nạn nhân của nó. 7  Những loại thực phẩm bạn ăn có thể gián tiếp ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư, ví dụ, bằng cách làm trầm trọng chứng trào ngược axit, một yếu tố gây ung thư thực quản, hoặc thông qua tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc đường tiêu hóa.

Ăn gì để không chết vì ung thư đại trực tràng

Người bình thường có khoảng 1/20 nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng trong suốt quãng đời của mình. 8 May mắn thay, đó là một trong số những loại ung thư có thể điều trị được, vì việc sàng lọc thường xuyên đã cho phép các bác sĩ phát hiện và loại bỏ ung thư trước khi nó lan truyền.

Có hơn 1 triệu người sống sót khỏi căn bệnh ung thư đại trực tràng chỉ tính riêng ở Mỹ, và, trong số những người được chẩn đoán trước khi ung thư lan rộng ra ngoài ruột, tỷ lệ sống sót sau 5 năm là khoảng 90 %. 9

Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của bệnh, ung thư đại trực tràng hiếm khi gây ra triệu chứng. Nếu ung thư được phát hiện ở những giai đoạn sau, việc điều trị sẽ trở nên khó khăn và ít hiệu quả hơn.

Bắt đầu từ 50 tuổi cho đến tuổi 75, bạn nên đi xét nghiệm phân hàng năm, xét nghiệm phân 3 năm một lần cộng với khám nội soi sigma 5 năm một lần, hoặc nội soi đại tràng 10 năm một lần. 10. Mặc dù việc thăm khám thường xuyên chắc chắn sẽ phát hiện ra ung thư đại trực tràng một cách dễ dàng, nhưng ngăn ngừa bệnh này ngay từ đầu thì vẫn tốt hơn.

Ăn nghệ giúp phòng chống ung thư đại trực tràng

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Ấn Độ thấp hơn khoảng 8 lần so với Mỹ, 11 và khoảng 20% ​​dân số sống dưới mức nghèo, 12 nhưng tỷ lệ ung thư ở Ấn Độ thấp hơn nhiều so với ở Mỹ.

Phụ nữ ở Mỹ có tỉ lệ ung thư đại trực tràng gấp 10 lần so với phụ nữ ở Ấn Độ, gấp 17 lần ung thư phổi, 9 lần ung thư nội mạc tử cung và ung thư hắc tố, ung thư thận gấp 12 lần, ung thư bàng quang gấp 8 lần và ung thư vú gấp 5 lần.

Nam giới ở Mỹ mắc ung thư đại trực tràng gấp 11 lần so với nam giới ở Ấn Độ, ung thư tuyến tiền liệt gấp 23 lần, ung thư hắc tố gấp 14 lần, ung thư thận gấp 9 lần, ung thư phổi và bàng quang gấp 7 lần. 13

Tại sao lại có sự khác biệt như vậy? Việc sử dụng thường xuyên nghệ gia vị trong các công thức nấu ăn của Ấn Độ được cho là lời lý giải cho câu hỏi này. 14

Theo kết quả nghiên cứu, chúng ta đã thấy curcumin, loại sắc tố màu vàng có trong gia vị nghệ, có thể chống lại các tế bào ung thư trong ống nghiệm. Chỉ có một lượng rất nhỏ curcumin mà bạn ăn được hấp thụ vào trong máu, do vậy nó không bao giờ có thể tiếp xúc với các khối u bên ngoài đường tiêu hóa. 15

Nhưng những gì không hấp thụ vào máu sẽ ở lại trong ruột của bạn, tại đây nó có thể tác động lên lớp tế bào lót ruột già, nơi các khối u ung thư phát triển.

Sự xuất hiện của ung thư đại trực tràng có thể được chia thành 3 giai đoạn. Dấu hiệu đầu tiên có thể là “những tế bào ruột già tiền ung thư – aberrant crypt foci”, các cụm tế bào bất thường nằm dọc lớp lót của đại tràng.

Tiếp đến là các polyp phát triển từ bề mặt bên trong. Giai đoạn cuối cùng được cho là xảy ra khi một polyp lành tính biến thành một tế bào ung thư. Ung thư có thể ăn qua thành đại tràng và lan truyền khắp cơ thể. Vậy curcumin có thể ngăn chặn được mỗi giai đoạn ung thư đại trực tràng ở mức độ nào?

Nghiên cứu những người hút thuốc có khuynh hướng có nhiều tế bào ruột già tiền ung thư, các nhà nghiên cứu đã thấy rằng sử dụng curcumin có thể làm giảm số lượng những cấu trúc dẫn đến ung thư tại trực tràng lên đến gần 40 %, từ 18 % xuống 11%, chỉ trong vòng 30 ngày.

Tác dụng phụ duy nhất được báo cáo là chúng khiến phân họ trở thành màu vàng. 16

Điều gì sẽ xảy ra nếu các polyp đã phát triển? 6 tháng sử dụng curcumin, cùng với một chất dinh dưỡng thực vật khác được gọi là quercetin – vốn có trong các loại rau và trái cây như hành tây đỏ và nho, được chứng minh là có khả năng làm giảm số lượng và kích thước của các polyp đến hơn một nửa ở các bệnh nhân ung thư đại trực tràng di căn. Một lần nữa, hầu như người ta không thấy có phản ứng phụ nào. 17

Điều gì sẽ xảy ra nếu các polyp đã chuyển thành ung thư? Trong nỗ lực cuối cùng để cứu sống 15 bệnh nhân bị ung thư đại trực tràng ở giai đoạn sau –những người không còn phản ứng với bất kỳ biện pháp hoá trị hay xạ trị nào, các chuyên gia ung thư đã bắt đầu cho họ sử dụng chiết xuất từ nghệ. Trong 2 đến 4 tháng điều trị, biện pháp này giúp ngăn chặn bệnh ở 1/3 số bệnh nhân, 5 trong số 15 người. 18

Nếu chúng ta nói về một số loại thuốc trị liệu mới mà chỉ có tác dụng với 1 trong 3 người, bạn phải cân nhắc về tất cả các phản ứng phụ nghiêm trọng. Nhưng khi đó chỉ là một loại chiết xuất từ thực vật cho thấy độ an toàn đáng kể, thậm chí nếu nó chỉ hữu ích với 1 trong 100 người, thì vẫn nên xem xét sử dụng nó.

Không có các nhược điểm nghiêm trọng, hiệu quả đầy tiềm năng với 1 trên 3 người mắc ung thư giai đoạn cuối, tất cả những điều này có vẻ như sẽ khiến nghệ trở thành đối tượng cho nhiều nghiên cứu khác nữa, đúng không? Nhưng ai sẽ trả tiền cho một nghiên cứu về một thứ không thể được cấp bằng sáng chế? 19

Tỷ lệ ung thư thấp ở Ấn Độ có thể một phần là do gia vị họ sử dụng, nhưng nó cũng có thể là do cả những thực phẩm mà họ tẩm ướp các gia vị đó. Ấn Độ là một trong những quốc gia sản xuất trái cây và rau củ lớn nhất thế giới, và chỉ khoảng 7 % dân số trưởng thành ăn thịt hàng ngày.

Những thực phẩm mà hầu hết người dân ăn hàng ngày là rau lá xanh và và họ nhà đậu, 20như đậu hạt, đậu tách, đậu gà và đậu lăng, tất cả đều chứa hàm lượng cao một loại hợp chất chống ung thư khác có tên gọi là phytates.

Kích thước của phân cũng rất quan trọng đối với ung thư đại trực tràng

Càng đi vệ sinh thường xuyên và kích thước phân càng lớn thì bạn càng khỏe mạnh.

Dựa trên nghiên cứu của 23 nhóm dân cư trên khắp 12 quốc gia, tỉ lệ mắc bệnh ung thư ruột sẽ tăng vọt khi lượng phân trung bình mỗi ngày giảm xuống dưới 0.22 kg.

Những nhóm dân cư giảm 0.11 kg phân có tỷ lệ ung thư ruột cao gấp 3 lần. Bạn có thể đo trọng lượng của phân của bạn bằng một cách đơn giản. Không, không phải bằng cách bạn vừa nghĩ đâu – chỉ cần leo lên bàn cân trước và sau khi bạn “giải quyết” là được.

Mối liên quan giữa kích thước của phân và ung thư ruột có thể liên quan đến “thời gian vận chuyển trong đường ruột”, thời gian cần để thức ăn đi từ miệng đến nhà vệ sinh.

Phân càng lớn thì thời gian vận chuyển càng nhanh vì ruột của bạn dễ dàng di chuyển chúng. 21 Người ta thường không biết rằng bạn đi vệ sinh hàng ngày và vẫn có thể bị táo bón vì thứ mà bạn vừa giật nước cũng có thể là thứ đã được ăn vào từ tuần trước.

Phải mất bao nhiêu lâu để thức ăn có thể di chuyển từ đầu này đến đầu kia còn phụ thuộc vào giới tính và thói quen ăn uống.

Với những người đàn ông có chế độ ăn uống chủ yếu là thực vật thì thực phẩm chỉ di chuyển mất 1 hoặc 2 ngày, nhưng thời gian vận chuyển này phải mất đến 5 ngày hoặc nhiều hơn nếu họ ăn một chế độ thông thường.

Phụ nữ với chế độ ăn từ thực phẩm thực vật thì thời gian vận chuyển trung bình cũng mất khoảng 1 hoặc 2 ngày, nhưng ở hầu hết phụ nữ ăn chế độ thông thường thì thời gian có thể lên đến 4 ngày. 22

Vì vậy, bạn có thể đi vệ sinh thường xuyên nhưng thời gian vận động của ruột thì vẫn chậm 4 ngày.

Bạn có thể đo thời gian vận chuyển đường ruột của mình bằng cách ăn củ cải đỏ và bạn sẽ biết được thời gian vận chuyển của ruột khi phân của bạn chuyển sang màu hồng. Nếu mất ít hơn khoảng thời gian 24 đến 36 giờ, có lẽ bạn đã đạt được mục tiêu khỏe mạnh là 0.22 kg đã nói ở trên. 23

Táo bón là một trong những triệu chứng tiêu hóa phổ biến nhất ở Mỹ, dẫn đến hàng triệu lượt thăm khám bác sĩ mỗi năm. 24 Nhưng ngoài những khó chịu, thì sự gồng mình gắng sức do cố cho ra lượng phân nhỏ và cứng có thể dẫn đến nhiều vấn đề về sức khoẻ khác, bao gồm thoát vị hoành, suy giãn tĩnh mạch, bệnh trĩ, 25 và các triệu chứng đau đớn như nứt hậu môn. 26

Táo bón có thể được coi là một bệnh thiếu chất dinh dưỡng, và chất dinh dưỡng bị thiếu đó là chất xơ. 27  Cũng như bạn có thể bị bệnh Scorbut nếu thiếu vitamin C, thì bạn có thể bị táo bón nếu bạn không có đủ chất xơ.

Vì chất xơ chỉ có trong thực phẩm thực vật nên không có gì ngạc nhiên khi bạn càng ăn nhiều rau củ quả, bạn càng ít bị táo bón. Ví dụ, một nghiên cứu so sánh hàng nghìn người ăn tạp, ăn chay thường và ăn chay thuần cho thấy những người ăn chế độ thực phẩm thực vật nghiêm ngặt có thể có tần suất đi vệ sinh gấp 3 lần. 28

Có vẻ như chỉ có những người ăn chay thuần mới là những người “bình thường”.

Chất Phytates giúp phòng chống ung thư đại trực tràng

Ung thư đại trực tràng là nguyên nhân đứng hàng thứ hai gây tử vong do ung thư ở Mỹ, 29 tuy nhiên ở một số nơi khác trên thế giới, căn bệnh này còn chưa được nghe thấy bao giờ.

Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất được ghi nhận ở Connecticut, và thấp nhất ở Kampala, Uganda. 30 Tại sao căn bệnh ung thư đại trực tràng lại phổ biến hơn ở các nước phương Tây?

Để tìm câu trả lời cho câu hỏi này, bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng Denis Burkitt đã trải qua 24 năm ở Uganda. Nhiều bệnh viện mà bác sĩ Burkitt từng đến ở Uganda thậm chí còn chưa bao giờ thấy một trường hợp ung thư đại trực tràng. 31

Ông cuối cùng đã đi đến kết luận rằng chìa khoá chính là lượng chất xơ, 32bởi hầu hết người Uganda có chế độ ăn uống dựa chủ yếu vào thực phẩm thực vật toàn phần (thô, nguyên). 33

Nghiên cứu tiếp theo đã gợi ý rằng chế độ ăn uống phòng ngừa ung thư có thể bao gồm thêm một vài yếu tố khác ngoài chất xơ. Ví dụ, tỷ lệ mắc bệnh ung thư đại trực tràng ở Đan Mạch cao hơn so với ở Phần Lan, 34 tuy nhiên người Đan Mạch tiêu thụ ít chất xơ hơn người Phần Lan. 35

Vậy những chất khác có khả năng bảo vệ cơ thể có thể giải thích điều gì về tỷ lệ ung thư thấp khi so sánh giữa các nhóm dân cư đều cùng ăn chủ yếu các loại thực vật?

Vâng, chất xơ không phải là thứ duy nhất được tìm thấy trong thực phẩm thực vật toàn phần mà không có trong các thực phẩm chế biến và có nguồn gốc động vật.

Câu trả lời có thể là các hợp chất tự nhiên có tên gọi là phytate, được tìm thấy trong hạt của thực vật – nói cách khác, trong tất cả các loại ngũ cốc nguyên hạt, đậu, hạt và hạt giống.

Phytate đã được chứng minh có khả năng thải chất sắt dư thừa trong cơ thể, nếu không sắt thừa có thể tạo ra một loại gốc tự do nguy hiểm đặc biệt gọi là gốc tự do hydroxyl. 36

Do đó, khi nói đến ung thư đại trực tràng, chế độ ăn uống tiêu chuẩn ở Mỹ có thể gây nguy hiểm gấp đôi: Thịt có chứa một loại sắt (heme) đặc biệt dẫn đến đến ung thư đại trực tràng37 nhưng lại thiếu phytate, giống các loại thực phẩm thực vật đã tinh chế, để loại bỏ các gốc tự do giả-mạo-sắt.

Trong nhiều năm, phytate đã bị đổ oan là một chất ức chế hấp thu khoáng chất, đó là lý do tại sao bạn có thể đã từng nghe những lời khuyên về việc hãy rang, làm nảy mầm, hoặc ngâm các loại hạt của bạn để loại bỏ phytate.

Trên lý thuyết, điều này sẽ cho phép bạn hấp thụ nhiều khoáng chất, như canxi. Niềm tin này xuất phát từ một loạt các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm thực hiện trên những chú chó con từ năm 1949, cho thấy chất phytate đã làm mềm xương, chống vôi hóa, 38 cũng giống các kết quả nghiên cứu tiếp theo thực hiện tương tự trên chuột. 39

Tuy nhiên gần đây, với số liệu nghiên cứu thực hiện trên người thật, hình ảnh của phytate đã được làm mới hoàn toàn. 40 Những người ăn nhiều thực phẩm có hàm lượng phytate cao hơn có xu hướng mật độ khoáng chất xương cao hơn, 41giảm mất xương và ít gãy xương hông hơn. 42

Phytate dường như có thể bảo vệ xương tương tự các loại thuốc chống loãng xương như Fosamax, nhưng không gây nguy cơ hoại tử xương (mục xương) hàm, một tác dụng phụ hiếm xảy ra nhưng có khả năng làm biến dạng gây ra bởi loại thuốc đó.

Phytates cũng có thể giúp bảo vệ chống lại ung thư đại trực tràng. Một nghiên cứu 6 năm với khoảng 30.000 người California cho thấy rằng tiêu thụ nhiều thịt hơn dẫn đến nguy cơ ung thư ruột cao hơn.

Thật bất ngờ, thịt trắng còn gây nguy cơ khủng khiếp hơn. Thực tế, những người ăn thịt đỏ ít nhất mỗi tuần một lần có nguy cơ ung thư ruột cao gấp đôi, tuy nhiên, nguy cơ này tăng lên gấp ba đối với những người ăn thịt gà hoặc cá một lần hoặc nhiều hơn một tuần. 45

Ăn đậu hạt, một nguồn phytate tuyệt vời, đã giúp giảm nhẹ nguy cơ này, do đó nguy cơ ung thư ruột của bạn có thể được xác định bằng tỷ lệ thịt/rau của bạn.

Có thể có sự khác biệt đến 8 lần về nguy cơ ung thư đại trực tràng giữa hai thái cực: chế độ nhiều rau, ít thịt với chế độ ít rau, nhiều thịt. 46

Vì vậy, chỉ cắt giảm thịt trong chế độ ăn của bạn vẫn chưa đủ; bạn cũng cần phải ăn nhiều rau củ hơn.

Thử nghiệm Phòng ngừa Polyp của Viện Ung thư Quốc gia cho thấy những người ăn đậu hạt thậm chí ít hơn một phần tư chén mỗi ngày cũng giảm tỷ lệ tái phát của polyp đại trực tràng tiền ung thư lên tới 65 %. 47

Trong số tất cả các chất dinh dưỡng tuyệt vời trong đậu, tại sao chúng ta có thể tin rằng phytate có thể giảm nguy cơ? Các nghiên cứu thực hiện trên đĩa petri đã chỉ ra rằng phytate ức chế sự phát triển của hầu như tất cả các tế bào ung thư ở người đã được kiểm tra cho đến nay – bao gồm ung thư ruột già, vú, cổ tử cung, tuyến tiền liệt, gan, tụy, và da48– trong khi không gây tác động gì đến các tế bào bình thường. 49

Đây là dấu hiệu khả quan cho một chất chống ung thư tốt với khả năng phân biệt giữa tế bào khối u và mô bình thường. Khi bạn ăn ngũ cốc nguyên hạt, đậu, hạt và hạt giống, phytate được hấp thu nhanh chóng vào máu và được các tế bào khối u lấy đi. Các khối u có thể tập hợp chất này hiệu quả đến mức các biện pháp quét phytate có thể được sử dụng để theo dõi sự lây lan của ung thư bên trong cơ thể. 50

Phytate có thể nhắm đến các tế bào ung thư khi kết hợp với các hoạt động chống oxy hóa, chống viêm và tăng cường miễn dịch. Bên cạnh việc ảnh hưởng trực tiếp đến các tế bào ung thư, phytate đã được chứng minh là tăng cường hoạt động của các “tế bào sát thủ tự nhiên”, hay chính là các bạch cầu hình thành nên hàng phòng ngự đầu tiên của bạn bằng cách tìm kiếm và loại bỏ các tế bào ung thư. 51

Phytate cũng đóng một vai trò trong tuyến phòng ngự cuối cùng, trong đó nó khiến các khối u bị “đói” máu đến chết. Có rất nhiều chất dinh dưỡng thực vật trong thức phẩm thực vật có thể giúp ngăn chặn sự hình thành các mạch máu nuôi các khối u, nhưng phytate cũng có thể phá vỡ đường cung cấp thức ăn cho khối u. 52

Tương tự như vậy, nhiều hợp chất thực vật có thể giúp làm chậm và thậm chí ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư, 53 nhưng phytate còn có thể khiến các tế bào ung thư trở lại trạng thái bình thường – nói cách khác, không còn vận hành giống như tế bào ung thư nữa.

Sự “phục hồi chức năng” của tế nào này đã được chứng minh trong các thí nghiệm ống nghiệm ở các tế bào ung thư ruột, 54 cũng như tế bào ung thư vú, 55gan, 56  và tuyến tiền liệt. 57

Phytate cũng có những tác dụng phụ, nhưng hầu như tất cả chúng đều có vẻ tốt. Tiêu thụ nhiều phytate dẫn đến đến ít mắc bệnh tim hơn, ít tiểu đường, và ít sỏi thận hơn.

Trên thực tế, một số nhà nghiên cứu đã cho rằng phytate nên được coi là một chất dinh dưỡng cần thiết. Giống như vitamin, phytate tham gia vào các phản ứng sinh hóa quan trọng trong cơ thể. Mức độ phytate của bạn dao động do chế độ ăn uống, và thiếu phytate dẫn đến những căn bệnh mà có thể cải thiện được bằng cách bổ sung đủ chất này. Phytate nên được xem là “Vitamin P.” 58

Loại bỏ polyp ruột với các loại quả họ dâu?

Có nhiều cách để so sánh độ lành mạnh của các loại trái cây và rau quả khác nhau, chẳng hạn như bằng giá trị dinh dưỡng hoặc các hoạt động chống oxy hoá.

Lý tưởng nhất là chúng ta sử dụng biện pháp liên quan đến hoạt động sinh học thực tế của rau củ quả. Một cách để làm điều này là đo khả năng ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư.

11 loại trái cây thông thường đã được thử nghiệm bằng cách nhỏ giọt chiết xuất của chúng vào tế bào ung thư đang phát triển trong một đĩa petri. Kết quả là? Các loại quả họ dâu trồng hữu cơ có thể xuất sắc ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư tốt hơn so với những quả đã được trồng theo cách thông thường. 60

Nhưng kết quả từ phòng thí nghiệm lại khác hẳn với thực tế. Những kết quả này chỉ có thể được áp dụng nếu các thành phần hoạt tính của thực phẩm được hấp thu vào hệ thống và tìm được đường đến các khối u đang nảy nở.

Tuy nhiên, ung thư đại trực tràng lại phát triển ngay bên ngoài lớp thành ruột của bạn, vì vậy những gì bạn ăn vẫn có thể có tác động trực tiếp. Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã quyết định thử với các loại quả họ dâu.

Hội chứng đa polyp tuyến có tính gia đình (Familial adenomatous polyposis – FAP) là một dạng ung thư đại trực tràng gây ra bởi một dạng đột biến ở các gene ngăn chặn khối u.

Những người bị ảnh hưởng sẽ phát triển hàng trăm polyp trong ruột, một số trong đó chắc chắn sẽ biến thành ung thư. Việc điều trị có thể phải dẫn đến cắt bỏ ruột kết, biện pháp loại bỏ ruột sớm như một bước phòng ngừa.

Từng có một loại thuốc có khả năng khiến polyp bị thoái hóa, nhưng nó đã bị cấm bán trên thị trường sau khi giết chết hàng chục ngàn người. 61 Liệu quả họ dâu có thể khiến polyp phải rút lui mà không gây các tác dụng phụ chết người không?

Chúng làm được. Sau 9 tháng điều trị hàng ngày sử dụng quả mâm xôi đen, 14 bệnh nhân với hội chứng đa polyp tuyến có tính gia đình đã giảm được một nửa gánh nặng mang tên polyp. 62

Thông thường, polyp sẽ phải được phẫu thuật cắt bỏ, nhưng quả họ dâu dường như đã làm cho chúng biến mất một cách tự nhiên. Phương pháp sử dụng quả họ dâu chỉ là một biện pháp từ tự nhiên.

Chế độ ăn quá nhiều sắt gây ung thư

Năm 2012, kết quả từ hai nghiên cứu chính từ Đại học Harvard đã được công bố. Nghiên cứu đầu tiên, có tên là Nurses’ Health Study, bắt đầu theo dõi chế độ ăn kiêng của khoảng 120.000 phụ nữ tuổi từ 30 cho đến 55 tuổi từ năm 1976; nghiên cứu thứ hai có tên là Health Professionals Follow-Up Study, theo dõi chế độ ăn của khoảng 50.000 người đàn ông từ 40 đến 75 tuổi.

Cứ 4 năm một lần, các nhà nghiên cứu lại kiểm tra những người tham gia nghiên cứu để theo dõi chế độ ăn uống của họ. Đến năm 2008, khoảng 24.000 người đã chết, trong đó có khoảng 6.000 người mắc bệnh tim và 9.000 người mắc ung thư. 64

Sau khi kết quả được phân tích, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng việc ăn thịt đỏ đã chế biến và chưa qua chế biến đều dẫn đến nguy cơ tử vong do ung thư, bệnh tim và rút ngắn tuổi thọ nói chung.

Họ đã đưa ra được kết luận này ngay cả sau khi đã kiểm soát tuổi, cân nặng, việc uống rượu, tập thể dục, hút thuốc, tiền sử bệnh tật của gia đình, lượng calo nạp vào, và thậm chí cả lượng thức ăn thực vật, như ngũ cốc nguyên hạt, hoa quả và rau.

Nói cách khác, các đối tượng nghiên cứu dường như không chết sớm bởi ăn ít các chất có lợi như phytate trong thực vật, mà có thể là do một chất nào đó có hại trong chính thịt.

Hãy tưởng tượng đến quy mô của việc theo sát hơn 100.000 người trong nhiều thập kỷ. Bây giờ hãy tưởng tượng một nghiên cứu có kích thước lớn gấp 5 lần như vậy. Nghiên cứu lớn nhất về chế độ ăn uống và sức khoẻ trong lịch sử là nghiên cứu NIH-AARP, được Viện sức khoẻ Quốc gia và Hiệp hội người nghỉ hưu Mỹ tài trợ.

Trong suốt một thập kỷ, các nhà nghiên cứu đã theo dõi khoảng 545.000 đàn ông và phụ nữ từ 50 đến 70 mốt tuổi trong nghiên cứu lớn nhất từng được tiến hành về mối quan hệ giữa thịt và tử vong.

Các nhà khoa học đã đi đến kết luận tương tự như các nhà nghiên cứu Harvard: Tiêu thụ thịt có thể dẫn đến nguy cơ tử vong do ung thư, tử vong do bệnh tim, và tử vong nói chung.

Một lần nữa, kết luận này có được sau khi kiểm soát chế độ ăn và các thói quen sống khác, loại trừ các khả năng như những người ăn thịt hút thuốc nhiều hơn, ít vận động hơn, hoặc không ăn trái cây, rau củ. 65  Các bài xã luận kèm theo trong Bản lưu trữ Y tế Nội bộ (Archives of Internal Medicine ) của Hiệp hội Y học Hoa Kỳ (có tiêu đề “Giảm tiêu thụ thịt mang lại nhiều lợi ích cho sức khoẻ toàn thế giới”) đã kêu gọi “giảm lượng thịt tiêu thụ.” 66

Thịt chứa những gì có thể làm tăng nguy cơ tử vong sớm? Một trong những yếu tố có khả năng là sắt heme, một dạng sắt được tìm thấy chủ yếu trong máu và cơ bắp.

Vì sắt có thể tạo ra các gốc tự do gây ung thư bằng cách hoạt động như một chất oxy hóa, 67  sắt có thể được coi như một con dao hai lưỡi – quá ít sắt thì bạn sẽ có nguy cơ thiếu máu, quá nhiều thì có nguy cơ cao mắc ung thư và bệnh tim.

Cơ thể con người không có cơ chế cụ thể để loại bỏ sắt thừa. 68 Thay vào đó, con người đã tiến hoá để điều chỉnh lượng sắt hấp thụ vào cơ thể. Nếu bạn không có đủ sắt lưu thông trong cơ thể, ruột của bạn sẽ bắt đầu tăng hấp thu sắt; nếu cơ thể có quá nhiều sắt lưu thông, ruột sẽ giảm sự hấp thụ chúng.

Nhưng hệ thống tương tự như cảm biến nhiệt này chỉ hoạt động hiệu quả với nguồn sắt chủ yếu trong chế độ ăn uống của con người: loại chất sắt nonhemia được tìm thấy chủ yếu trong thực phẩm thực vật.

Khi bạn có đủ lượng sắt trong máu, cơ thể của bạn sẽ hoạt động hiệu quả gấp 5 lần trong việc ngăn chặn sự hấp thu sắt dư thừa từ thức ăn thực vật hơn là từ thức ăn động vật. 69

Đây có thể là lý do tại sao sắt heme dẫn đến nguy cơ ung thư70 và bệnh tim. 71Tương tự, sắt heme cũng đồng thời dẫn đến nguy cơ cao tiểu đường, nhưng sắt nonheme thì không. 72

Nếu chúng ta loại bỏ sắt khỏi cơ thể người, liệu chúng ta có thể giảm tỷ lệ ung thư không? Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những người được phân chia ngẫu nhiên để hiến máu thường xuyên nhằm giảm lượng sắt dự trữ trong cơ thể có vẻ đã giảm được một nửa nguy cơ mắc bệnh và tử vong do ung thư ruột trong khoảng thời gian 5 năm. 73

Những phát hiện này đáng chú ý đến mức một bài xã luận trong Tạp chí của Viện Ung thư Quốc gia phải phản hồi rằng “những kết quả này thật không thể tin được!”74

Hiến máu là việc rất tốt, nhưng chúng ta cũng nên cố gắng ngăn chặn sự tích tụ sắt dư thừa ngay từ đầu. Ngành công nghiệp thịt đang sử dụng các chất phụ gia để “kiềm chế các ảnh hưởng độc hại của sắt heme”, nhưng tốt hơn hết là bạn cần bổ sung hơn nữa nguồn thực vật trong chế độ ăn uống của bạn, giúp cơ thể bạn có thể vận hành tốt hơn.

Nạp đủ sắt trong chế độ ăn dựa vào thực vật

So với những người ăn thịt, người ăn chay có xu hướng ăn nhiều chất sắt hơn (cũng như nhiều chất dinh dưỡng hơn), 76 nhưng sắt trong thực phẩm thực vật không hấp thụ vào cơ thể hiệu quả như sắt heme trong thịt.

Mặc dù điều này có thể là một lợi thế trong việc ngăn ngừa tình trạng quá tải sắt, nhưng khoảng 1 trong 30 phụ nữ có kinh nguyệt ở Mỹ bị mất sắt nhiều hơn lượng nạp vào, dẫn tới thiếu máu. 77

Phụ nữ có chế độ ăn uống dựa vào thực vật dường như không bị thiếu sắt hơn những phụ nữ ăn nhiều thịt, nhưng tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cần đảm bảo lượng sắt cần thiết.

Những người bị chẩn đoán thiếu sắt nên hỏi ý kiến bác sĩ về việc thử điều trị bệnh bằng chế độ ăn uống trước, vì sử dụng thuốc bổ sung chất sắt được cho là làm tăng tình trạng mất cân bằng oxy hóa. 79

Các nguồn sắt lành mạnh nhất là ngũ cốc nguyên hạt, họ nhà đậu, hạt, hạt giống, quả sấy khô, các loại rau lá xanh. Tránh uống trà trong khi ăn, vì nó có thể ngăn cản sự hấp thụ sắt.

Ăn các thực phẩm giàu vitamin C có thể cải thiện sự hấp thụ sắt. Lượng vitamin C trong một quả cam có thể làm tăng sự hấp thụ sắt lên gấp 3 đến 6 lần, vì vậy những người đang muốn tăng cường hấp thụ sắt nên ăn thêm trái cây thay vì uống một tách trà. 80

Ăn gì để không chết vì bệnh ung thư tuyến tụy

Ông tôi chết vì ung thư tuyến tụy. Thời điểm triệu chứng đầu tiên xuất hiện – ông thấy ruột gan quặn đau – thì đã quá trễ. Đó là lý do tại sao chúng ta cần phải phòng bệnh ngay từ đầu.

Ung thư tuyến tụy là một trong những dạng ung thư gây chết người nhất, chỉ 6 % bệnh nhân sống sót 5 năm sau khi chẩn đoán. Rất may, bệnh này tương đối hiếm, chỉ giết chết khoảng 40.000 người Mỹ mỗi năm. 81

Khoảng 20 % ​​trường hợp ung thư tuyến tụy có thể là kết quả của việc hút thuốc lá. 82 Các yếu tố khác có thể điều chỉnh được gồm béo phì và uống quá nhiều rượu. 83

Như chúng ta sẽ thấy, các yếu tố dinh dưỡng cụ thể cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của căn bệnh chết người này.

Ví dụ, chất béo trong chế độ ăn uống của một người có thể góp phần vào nguy cơ ung thư tuyến tụy như thế nào từ lâu đã là một chủ đề của các cuộc tranh luận.

Sự không thống nhất của kết quả các nghiên cứu về tác động của lượng chất béo nạp vào cơ thể có thể một phần là do các chất béo khác nhau ảnh hưởng đến nguy cơ mắc bệnh theo cách khác nhau.

Nghiên cứu NIH-AARP đã đề cập ở phần trước đủ lớn để có thể phát hiện loại chất béo nào có khả năng lớn nhất dẫn đến với ung thư tuyến tụy. Đây là lần đầu tiên chúng ta tách biệt vai trò của chất béo từ các nguồn thực vật, như các loại hạt, hạt giống, bơ, dầu ô liu và dầu thực vật, với chất béo từ nguồn động vật, bao gồm thịt, sản phẩm sữa và trứng.

Tiêu thụ chất béo từ tất cả các nguồn động vật có dẫn đến nguy cơ đáng kể mắc ung thư tuyến tụy, nhưng không có mối tương quan giữa bệnh này với việc tiêu thụ chất béo thực vật. 84

Ăn thịt gà có nguy cơ mắc ung thư tuyến tụy ?

Bắt đầu vào đầu những năm 1970, một loạt các điều luật đã hạn chế việc sử dụng amiăng, nhưng hàng ngàn người Mỹ vẫn tiếp tục chết mỗi năm do bị phơi nhiễm với chất này.

Các Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật, Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ và Cơ quan Bảo vệ Môi trường ước tính rằng trong khoảng thời gian 30 năm, khoảng 1.000 trường hợp ung thư sẽ xảy ra trong số những người tiếp xúc với amiăng ở trường học như trẻ em. 85

Tất cả bắt đầu từ những thế hệ trước với những người công nhân amiăng. Các bệnh ung thư liên quan đến amiăng đầu tiên xảy ra trong những năm 1920 với các thợ mỏ. Sau đó, làn sóng mang bệnh thứ hai là những công nhân đóng tàu và công nhân xây dựng đã sử dụng amiăng.

Hiện chúng ta đang ở trong làn sóng thứ ba của các bệnh liên quan đến amiăng, vì các tòa nhà được xây dựng với amiăng đang bắt đầu xuống cấp. 86

Lịch sử của amiăng cho thấy rằng, để biết được một thứ gì đó có gây ra ung thư hay không, đầu tiên các nhà khoa học sẽ nghiên cứu những người tiếp xúc nhiều nhất với thứ đó. Đó là cách chúng ta hiện đang sử dụng để tìm hiểu về tác động gây ung thư tiềm ẩn của virut gia cầm.

Có những mối quan tâm lâu dài về khả năng virut ung thư gây đốm mụn ở gà đang được chuyển hóa thành chứng bệnh thường thấy qua việc con người xử lý gà tươi hoặc gà đông lạnh. 87

Các loại virut này gây ung thư ở các loài chim, nhưng vai trò của chúng trong ung thư ở người còn chưa được chứng minh rõ ràng. Mối quan tâm này phát sinh từ các nghiên cứu cho thấy những người làm việc trong các cơ sở giết mổ và chế biến gia cầm có nguy cơ tử vong cao hơn do một số loại ung thư nhất định.

Nghiên cứu gần đây nhất, thực hiện với 30.000 công nhân ở xưởng gia cầm đã được tiến hành để kiểm tra xem liệu việc “tiếp xúc với virut gây ung thư ở gia cầm xảy ra ở công nhân chăn nuôi gia cầm do tiếp xúc nghề nghiệp – không kể đến dân số nói chung – có thể làm tăng nguy cơ tử vong ung thư gan và ung thư tuyến tụy hay không”.

Nghiên cứu cho thấy những người giết mổ gà có tỷ lệ ung thư tuyến tụy và ung thư gan cao hơn khoảng 9 lần. 88

Để nhìn nhận và so sánh kết quả này, ta sẽ lấy yếu tố gây ung thư tuyến tụy được nghiên cứu kỹ nhất là việc hút thuốc lá. Nhưng ngay cả khi bạn hút thuốc trong 50 năm, bạn sẽ “chỉ” tăng gấp đôi tỷ lệ mắc bệnh ung thư tuyến tụy của mình mà thôi. 89

Còn những người ăn thịt gà thì sao? Cuộc nghiên cứu lớn nhất từng trả lời cho câu hỏi này là Nghiên cứu Điều tra Châu Âu về Ung thư và Dinh dưỡng (EPIC), theo dõi 477.000 người trong khoảng một thập kỷ.

Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy nguy cơ ung thư tuyến tụy tăng lên 72% với mỗi 50 gram thịt gà tiêu thụ hàng ngày. 90 Các nhà nghiên cứu bày tỏ sự ngạc nhiên rằng đó là ăn thịt gia cầm chứ không phải thịt đỏ – khi thịt đỏ vốn được gắn với bệnh ung thư.

Khi một kết quả tương tự đã được tìm thấy đối với ung thư hạch bạch huyết và bệnh bạch cầu ác tính, nhóm nghiên cứu EPIC cũng thừa nhận rằng mặc dù các thuốc kích thích tăng trưởng cho gà và gà tây cũng có thể đóng một phần vai trò, nhưng cũng có thể là do các loại vi khuẩn ung thư được tìm thấy ở gia cầm. 91

Lý do mà mối quan hệ giữa amiăng và ung thư được kiểm chứng tương đối dễ dàng là bởi amiăng gây ra một bệnh ung thư đặc biệt bất thường (Mesothelioma), căn bệnh hầu như chưa từng có trước khi sử dụng rộng rãi chất amiăng. 92

Nhưng vì ung thư tuyến tụy do ăn thịt gà cũng tương tự như ung thư tuyến tụy do hút thuốc lá, nên việc tách biệt mối quan hệ nhân-quả trở nên khó khăn hơn.

Điều trị Ung thư tuyến tụy với Curcumin

Ung thư tuyến tụy là một trong những dạng ung thư hiếu chiến nhất. Nếu không điều trị, đa số bệnh nhân tử vong từ 2 đến 4 tháng sau khi chẩn đoán. Thật không may, chỉ có khoảng 10 % bệnh nhân chấp nhận hóa trị liệu, và phần lớn trong số họ gặp các phản ứng phụ nghiêm trọng. 94

Curcumin, thành phần có màu sắc sặc sỡ của gia vị nghệ tây, có thể đảo ngược những thay đổi tiền ung thư ở ung thư ruột và đã được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm chứng minh có hiệu quả trong chống lại các tế bào ung thư phổi.

Người ta cũng thu được các kết quả tương tự bằng cách sử dụng curcumin để trị các tế bào ung thư tuyến tụy. 95. Vậy tại sao không thử sử dụng curcumin để điều trị bệnh nhân bị ung thư tuyến tụy?

Trong một nghiên cứu do Viện Ung thư Quốc gia tài trợ và thực hiện tại Trung tâm Ung thư MD Anderson, các bệnh nhân ung thư tuyến tụy phát triển được cho uống curcumin liều cao.

Trong số 21 bệnh nhân mà các nhà nghiên cứu có thể đánh giá, 2 người đã phản ứng tích cực với biện pháp điều trị này. Một người đã giảm 73 % kích thước khối u của mình, mặc dù cuối cùng một khối u kháng curcumin vẫn phát triển ở vị trí của nó.

Tuy nhiên, bệnh nhân còn lại cho thấy sự cải thiện đều đặn trong suốt 18 tháng. Các dấu hiệu ung thư chỉ thực sự xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn 3 tuần khi phương pháp điều trị curcumin bị dừng lại. 96

Đúng vậy, chỉ có khối u của 2 trong số 21 người tham gia là có phản ứng, nhưng biện pháp này tương tự như trị liệu bằng ăn uống và sử dụng curcumin để điều trị không cho thấy bất kỳ tác dụng phụ nào.

Kết quả là, tôi thực sự muốn khuyên các bệnh nhân ung thư tuyến tụy sử dụng curcumin bất kể là họ đang chọn phương pháp điều trị nào khác.Tuy nhiên, với các tiên lượng khủng khiếp về căn bệnh này, thì việc thực hiện phòng bệnh là vô cùng quan trọng.

Cho đến khi chúng ta biết nhiều hơn, tốt nhất là bạn nên tránh hút thuốc lá, uống rượu quá nhiều, tránh béo phì và ăn theo chế độ ít thực phẩm từ động vật, ngũ cốc tinh chế, các loại đường phụ gia97 và ăn nhiều đậu hạt, đậu lăng, đậu tách và quả khô.

Ăn gì để không chết vì ung thư thực quản

Ung thư thực quản xảy ra khi các tế bào ung thư phát triển trong thực quản (các ống cơ đưa thức ăn từ miệng đến dạ dày của bạn).

Thông thường, ung thư phát sinh trong lớp lót của thực quản và xâm nhập vào các lớp ngoài trước khi di căn (lan rộng) ra các cơ quan khác.

Từ ban đầu, cơ thể có thể sẽ xuất hiện vài triệu chứng-nếu có. Nhưng khi bệnh ung thư đã phát triển, triệu chứng khó nuốt có thể xảy ra.

Mỗi năm, có khoảng 18.000 ca bệnh mới mắc ung thư thực quản và 15.000 người tử vong. 99Các yếu tố gây bệnh chính gồm hút thuốc lá, uống nhiều rượu và bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD, còn được gọi là acid reflux), trong đó axit từ dạ dày đẩy lên thực quản, đốt cháy lớp bên trong của thực quản và gây viêm, rồi cuối cùng có thể dẫn đến ung thư.

Bên cạnh việc tránh sử dụng thuốc lá và rượu (thậm chí uống rượu nhẹ cũng có thể làm tăng nguy cơ), 100 điều quan trọng nhất bạn có thể làm để ngăn ngừa ung thư thực quản là loại bỏ tình trạng trào ngược acid và điều này thường có thể thực hiện được bằng chế độ ăn kiêng.

Trào ngược axit và ung thư thực quản

Trào ngược axit là một trong những tình trạng rối loạn phổ biến nhất của đường tiêu hóa. Các triệu chứng thông thường bao gồm ợ nóng cũng như đẩy ngược những gì đã ăn trở lại cổ họng, để lại vị chua trong miệng.

GERD gây ra hàng triệu lượt thăm khám và nhập viện mỗi năm và là đại điện cho căn bệnh tốn nhiều chi phí hàng năm nhất trong tất cả các bệnh tiêu hóa ở Mỹ. 101 Chứng viêm mãn tính do trào ngược axit có thể dẫn đến bệnh Barrett thực quản, triệu chứng tiền ung thư dẫn đến sự thay đổi trong lớp lót của thực quản. 102

Để ngăn ngừa ung thư biểu mô tuyến, loại ung thư thực quản phổ biến nhất tại Mỹ, chuỗi triệu chứng này cần phải được dừng lại – và điều đó có nghĩa là phải ngưng trào ngược axit ngay từ đầu.

Đây là một bài toán khó với toàn nước Mỹ. Trong 3 thập kỷ qua, tỷ lệ mắc bệnh ung thư thực quản ở người Mỹ đã tăng lên gấp 6 lần103– mức tăng còn lớn hơn ung thư vú hoặc tuyến tiền liệt, và điều này chủ yếu là do trào ngược axit đang gia tăng. 104

Tại Mỹ, cứ 4 người lại có một người (28%) bị ợ nóng và / hoặc trào ngược axit ít nhất mỗi tuần/lần, so với tỉ lệ chỉ 5 % dân số ở châu Á. 105 Điều này cho thấy các yếu tố chế độ ăn uống có thể đóng một vai trò quan trọng.

Trong 2 thập kỷ qua, khoảng 45 nghiên cứu đã kiểm tra mối liên quan giữa chế độ ăn uống, bệnh Barrett thực quản và ung thư thực quản. Sự liên kết nhất quán với bệnh ung thư là do tiêu thụ thịt và các bữa ăn giàu chất béo. 106

Thật thú vị, các loại thịt khác nhau dẫn đến ung thư ở những bộ phận khác nhau. Thịt đỏ có liên quan mật thiết đến ung thư thực quản, trong khi đó thịt gia cầm có mối quan hệ chặt chẽ với bệnh ung thư quanh đường biên giữa thực quản và dạ dày. 107

Tại sao lại có chuyện như vậy? Trong vòng 5 phút sau khi ăn chất béo, cơ vòng ở đầu dạ dày – hoạt động như một van giữ thức ăn bên trong dạ dày – bắt đầu thư giãn, cho phép các axit leo lên thực quản. 108

Ví dụ, trong một nghiên cứu, những người tình nguyện đã ăn một bữa giàu chất béo (xúc xích, trứng, và bánh sandwich phô mai của McDonald) cảm thấy rằng có nhiều axit đẩy lên thực quản hơn so với những người ăn bữa ít chất béo hơn (bánh kẹp của McDonald’s) . 109

Một phần của hiệu ứng này có thể là do việc tạo ra hoóc-môn được gọi là cholecystokinin, được kích hoạt bởi cả thịt110 và trứng111 và cũng có thể thư giãn cơ vòng. 112

Điều này giúp giải thích tại sao những người ăn thịt lại có tỷ lệ viêm thực quản gây trào ngược cao hơn 2 lần so với những người ăn chay. 113

Ngay cả khi không có nguy cơ ung thư, chính GERD cũng có thể gây đau, chảy máu, và làm hẹp mô sẹo của thực quản và gây trở ngại cho việc nuốt.

Hàng tỷ đô la đã được chi cho các loại thuốc để giảm bớt chứng ợ nóng và trào ngược axit bằng cách giảm số lượng axit do dạ dày sinh ra, nhưng các thuốc này góp phần dẫn đến suy dinh dưỡng và làm tăng nguy cơ viêm phổi, nhiễm trùng đường ruột và gãy xương. 114

Có lẽ tốt hơn hết là giữ axit ở vị trí của nó bằng cách giảm thiểu lượng thức ăn cho phép axit thoát ra.

Biện pháp bảo vệ cơ thể bằng việc ăn các thực phẩm thực vật không chỉ dựa vào việc giảm lượng thức ăn. Đảm bảo chế độ ăn uống chủ yếu là các thực phẩm giàu chất chống oxy hoá có thể làm giảm một nửa tỷ lệ ung thư thực quản. 115

Các loại thực phẩm có khả năng bảo vệ khỏi ung thư dạ dày-thực quản thường là các loại rau củ có màu đỏ, cam, và rau lá màu xanh đậm, quả họ dâu, táo và các loại quả họ cam, 116nhưng tất cả các thực phẩm thực vật chưa qua chế biến đều có lợi thế là có chứa chất xơ.

Ăn nhiều chất xơ giúp giảm tỷ lệ ung thư thực quản

Trong khi lượng chất béo dẫn đến tăng nguy cơ trào ngược, việc tiêu thụ chất xơ có thể làm giảm nguy cơ này. 117  Bổ sung nhiều chất xơ có thể làm giảm tỉ lệ ung thư thực quản bằng đến 1/3118 bằng cách giúp ngăn ngừa nguyên nhân gốc rễ của nhiều trường hợp trào ngược axit: thoát vị một phần dạ dày lên tới khoang ngực.

Sự thoát vị hoành, như đã được biết, xảy ra khi một phần của dạ dày được đẩy lên qua cơ hoành vào ngực. Hơn một phần năm người Mỹ phải chịu đựng bệnh thoát vị hoành.

Ngược lại, với những nhóm dân số có chế độ ăn uống dựa trên thực vật thì căn bệnh này gần như không được biết đến, với tỷ lệ gần một phần nghìn. 119 Điều này được cho là bởi vì họ đi vệ sinh dễ dàng khi phân lớn, mềm. 120

Những người không ăn nhiều thực phẩm thực vật toàn phần có phân nhỏ, cứng hơn và khó “giải quyết” hơn. Nếu bạn thường xuyên phải gồng mình để đi vệ sinh, theo thời gian áp lực gia tăng có thể đẩy một phần của dạ dày lên và ra khỏi khoang bụng, cho phép axit chảy về phía họng. 121

Áp lực tương tự khi phải gồng mình trong nhà vệ sinh từ tuần này qua tuần khác có thể gây ra các vấn đề khác. Tương tự như bóp một quả stress ball làm quả bóng bật ra, áp lực từ việc cố gồng mình trong nhà vệ sinh có thể đẩy các bao tải ít (outpouchings) khỏi vùng đáy chậu, một tình trạng được gọi là viêm túi thừa.

Áp lực tăng lên ở bụng cũng có thể làm tăng lưu lượng máu trong tĩnh mạch xung quanh hậu môn, gây bệnh trĩ, thậm chí đẩy máu chảy vào chân, dẫn đến suy tĩnh mạch. 122 Nhưng chế độ ăn giàu chất xơ có thể làm giảm áp lực ở cả 2 hướng. Những người ăn chế độ ăn xoay quanh thực phẩm thực vật toàn phần có xu hướng đi vệ sinh dễ dàng và dạ dày của họ vẫn ở yên vị trí của nó, 123 có thể làm giảm sự trào axit – tình trạng dẫn đến một trong những căn bệnh ung thư chết người nhất của chúng ta.

Ăn dâu tây có thể đảo ngược sự phát triển ung thư thực quản?

Ung thư thực quản kết hợp với ung thư tuyến tụy như là một trong những chẩn đoán chết người nhất mà bạn có thể tưởng tượng được. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm là dưới 20 %, 124 vì hầu hết mọi người có nguy cơ tử vong trong năm đầu tiên sau khi chẩn đoán. 125

Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải phòng ngừa, ngăn chặn hoặc đảo ngược tiến trình bệnh càng sớm càng tốt.

Các nhà nghiên cứu đã quyết định đưa quả họ dâu vào thử nghiệm. Trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên về bột dâu tây ở những bệnh nhân bị tổn thương tiền ung thư trong thực quản, các đối tượng ăn mỗi ngày từ 30 đến 60 gram dâu tây khô đông lạnh mỗi ngày trong 6 tháng – tương đương với khoảng 450 gram dâu tươi. 126

Tất cả những người tham gia nghiên cứu bắt đầu với tiền ung thư dạng nhẹ hoặc trung bình, nhưng đáng ngạc nhiên, sự tiến triển của bệnh đã được đảo ngược ở khoảng 80 % bệnh nhân trong nhóm ăn nhiều dâu tây liều cao.

Hầu hết các tổn thương tiền ung thư này đều hồi phục từ mức trung bình đến nhẹ hoặc biến mất hoàn toàn. Một nửa trong số những người sử dụng dâu tây liều cao đã không còn bệnh tật. 127

Việc ăn chất xơ không chỉ trút bỏ được gánh nặng trong việc đi vệ sinh. Con người đã tiến hóa và ăn một lượng lớn chất xơ, có thể vượt quá 100 gram mỗi ngày. 128 Đó là khoảng 10 lần mức trung bình mà con người ăn mỗi ngày hiện nay. 129

Bởi vì thực vật không chạy nhanh như động vật, phần lớn chế độ ăn uống của chúng ta thời gian đó là chất xơ. Ngoài việc khiến cho bạn đi vệ sinh dễ dàng, chất xơ còn kết hợp với các chất độc, như chì và thủy ngân, và đẩy chúng ra ngoài. 130

Cơ thể của chúng ta được cấu trúc để đảm bảo luôn có chất xơ, nhằm loại bỏ những chất thải không mong muốn như cholesterol dư thừa và estrogen vào ruột, giả sử là những chất thừa này sẽ bị đào thải khỏi cơ thể.

Nhưng nếu bạn không thường xuyên lấp đầy bụng bằng các loại thức ăn thực vật – nguồn chất xơ tự nhiên duy nhất, thì các chất thải không mong muốn có thể bị hấp thụ lại và làm suy yếu cơ thể bạn trong việc tự giải độc.

Chỉ có 3% người Mỹ có thể đạt được lượng chất xơ tối thiểu hàng ngày được khuyến cáo, làm cho chất xơ trở thành một trong những chất dinh dưỡng bị thiếu phổ biến nhất ở Mỹ.

Michael Greger, M.D.,

Hãy cho chúng tôi biết suy nghĩ của bạn về bài viết này thông qua việc để lại comment ở dưới đây. Nếu bạn thấy bài viết hữu ích hãy like và share ngay nhé.

Danh mục tài liệu tham khảo từ các công trình nghiên cứu, bằng chứng khoa học:

1. Liu PH, Wang JD, Keating NL. Expected years of life lost for six potentially preventable cancers in the United States. Prev Med. 2013;56(5):309–13.

2. Bertram JS, Kolonel LN, Meyskens FL. Rationale and strategies for chemoprevention of cancer in humans. Cancer Res. 1987;47(11):3012–31.

3. Hasleton PS. The internal surface area of the adult human lung. J Anat. 1972;112(Pt 3):391–400.

4. Macdonald TT, Monteleone G. Immunity, inflammation, and allergy in the gut. Science. 2005;307(5717):1920–5.

5. What are the key statistics about colorectal cancer? American Cancer Society website. http://www.cancer.org/cancer/colonandrectumcancer/detailedguide/colorectal-cancer-key-statistics. Accessed March 3, 2015.

6. What are the key statistics about pancreatic cancer? American Cancer Society website. http://www.cancer.org/cancer/pancreaticcancer/detailedguide/pancreatic-cancer-key-statistics. Accessed March 3, 2015.

7. American Cancer Society. Cancer Facts & Figures 2014. Atlanta: American Cancer Society; 2014.

8. What are the key statistics about colorectal cancer? American Cancer Society website. http://www.cancer.org/cancer/colonandrectumcancer/detailedguide/colorectal-cancer-key-statistics. Accessed March 3, 2015.

9. American Cancer Society. Cancer Facts & Figures 2014. Atlanta: American Cancer Society; 2014.

10. Screening for Colorectal Cancer. US Preventive Services Task Force website. http://www.uspreventiveservicestaskforce.org/Home/GetFile/1/467/colcancsumm/pdf. Accessed March 3, 2015.

11. International Monetary Fund. World Economic Outlook Database. http://bit.ly/1bNdlWu. April 2015. Accessed May 2, 2015.

12. World Bank. World Development Indicators. http://data.worldbank.org/country/india. 2011. Accessed May 2, 2015.

13. Bengmark S, Mesa MD, Gill A. Plant-derived health: the effects of turmeric and curcuminoids. Nutr Hosp. 2009;24(3):273–81.

14. Hutchins-Wolfbrandt A, Mistry AM. Dietary turmeric potentially reduces the risk of cancer. Asian Pac J Cancer Prev. 2011;12(12):3169–73.

15. Sharma RA, Euden SA, Platton SL, et al. Phase I clinical trial of oral curcumin: biomarkers of systemic activity and compliance. Clin Cancer Res. 2004;10(20):6847–54.

16. Carroll RE, Benya RV, Turgeon DK, et al. Phase IIa clinical trial of curcumin for the prevention of colorectal neoplasia. Cancer Prev Res (Phila). 2011;4(3):354–64.

17. Cruz-Correa M, Shoskes DA, Sanchez P, et al. Combination treatment with curcumin and quercetin of adenomas in familial adenomatous polyposis. Clin Gastroenterol Hepatol. 2006;4(8):1035–8.

18. Sharma RA, McLelland HR, Hill KA, et al. Pharmacodynamic and pharmacokinetic study of oral Curcuma extract in patients with colorectal cancer. Clin Cancer Res. 2001;7(7):1894–900.

19. Singh S. From exotic spice to modern drug? Cell. 2007;130(5):765–8.

20. International Institute for Population Sciences & Macro International: National Family Health Survey (NFHS-3), 2005–06: India: Vol. I. Mumbai: IIPS; 2007.

21. Cummings JH, Bingham SA, Heaton KW, Eastwood MA. Fecal weight, colon cancer risk, and dietary intake of nonstarch polysaccharides (dietary fiber). Gastroenterology. 1992;103(6):1783–9.

22. Gear JS, Brodribb AJ, Ware A, Mann JI. Fibre and bowel transit times. Br J Nutr. 1981;45(1):77–82.

23. Burkitt DP, Walker AR, Painter NS. Effect of dietary fibre on stools and the transit-times, and its role in the causation of disease. Lancet. 1972;2(7792):1408–12.

24. Sonnenberg A, Koch TR. Physician visits in the United States for constipation: 1958 to 1986. Dig Dis Sci. 1989;34(4):606–11.

25. Burkitt DP. A deficiency of dietary fiber may be one cause of certain colonic and venous disorders. Am J Dig Dis. 1976;21(2):104–8.

26. Fox A, Tietze PH, Ramakrishnan K. Anorectal conditions: anal fissure and anorectal fistula. FP Essent. 2014;419:20–7.

27. Burkitt DP. A deficiency of dietary fiber may be one cause of certain colonic and venous disorders. Am J Dig Dis. 1976;21(2):104–8.

28. Sanjoaquin MA, Appleby PN, Spencer EA, Key TJ. Nutrition and lifestyle in relation to bowel movement frequency: a cross-sectional study of 20630 men and women in EPIC-Oxford. Public Health Nutr. 2004;7(1):77–83.

29. What are the key statistics about colorectal cancer? American Cancer Society website. http://www.cancer.org/cancer/colonandrectumcancer/detailedguide/colorectal-cancer-key-statistics. Accessed March 3, 2015.

30. Doll R. The geographical distribution of cancer. Br J Cancer. 1969;23(1):1–8.

31. Lipski E. Traditional non-Western diets. Nutr Clin Pract. 2010;25(6):585–93.

32. Burkitt DP. Epidemiology of cancer of the colon and rectum.1971. Dis. Colon Rectum. 1993;36(11):1071–82.

33. Shaper AG, Jones KW. Serum-cholesterol, diet, and coronary heart-disease in Africans and Asians in Uganda: 1959. Int J Epidemiol. 2012;41(5):1221–5.

34. Malila N, Hakulinen T. Epidemiological trends of colorectal cancer in the Nordic countries. Scand J Surg. 2003;92(1):5–9.

35. Englyst HN, Bingham SA, Wiggins HS, et al. Nonstarch polysaccharide consumption in four Scandinavian populations. Nutr Cancer. 1982;4(1):50–60.

36. Graf E, Eaton JW. Dietary suppression of colonic cancer. Fiber or phytate? Cancer. 1985;56(4):717–8.

37. Fonseca-Nunes A, Jakszyn P, Agudo A. Iron and cancer risk—a systematic review and meta-analysis of the epidemiological evidence. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev. 2014;23(1):12–31.

38. Mellanby E. The rickets-producing and anti-calcifying action of phytate. J Physiol. 1949;109(3–4):488–533.

39. House WA, Welch RM, Van Campen DR. Effect of phytic acid on the absorption, distribution, and endogenous excretion of zinc in rats. J Nutr. 1982;112(5):941–53.

40. Urbano G, López-Jurado M, Aranda P, Vidal-Valverde C, Tenorio E, Porres J. The role of phytic acid in legumes: antinutrient or beneficial function? J Physiol Biochem. 2000;56(3):283–94.

41. López-González AA, Grases F, Roca P, Mari B, Vicente-Herrero MT, Costa-Bauzá A. Phytate (myo-inositol hexaphosphate) and risk factors for osteoporosis. J Med Food. 2008;11(4):747–52.

42. López-González AA, Grases F, Monroy N, et al. Protective effect of myo-inositol hexaphosphate (phytate) on bone mass loss in postmenopausal women. Eur J Nutr. 2013;52(2):717–26.

43. Arriero Mdel M, Ramis JM, Perelló J, Monjo M. Inositol hexakisphosphate inhibits osteoclastogenesis on RAW 264.7 cells and human primary osteoclasts. PLoS ONE. 2012;7(8):e43187.

44. Khosla S, Burr D, Cauley J, et al. Bisphosphonate-associated osteonecrosis of the jaw: report of a task force of the American Society for Bone and Mineral Research. J Bone Miner Res. 2007;22(10):1479–91.

45. Singh PN, Fraser GE. Dietary risk factors for colon cancer in a low-risk population. Am J Epidemiol. 1998;148(8):761–74.

46. Manousos O, Day NE, Trichopoulos D, Gerovassilis F, Tzonou A, Polychronopoulou A. Diet and colorectal cancer: A case-control study in Greece. Int J Cancer. 1983;32(1):1–5.

47. Lanza E, Hartman TJ, Albert PS, et al. High dry bean intake and reduced risk of advanced colorectal adenoma recurrence among participants in the polyp prevention trial. J Nutr. 2006;136(7):1896–1903.

48. Vucenik I, Shamsuddin AM. Protection against cancer by dietary IP6 and inositol. Nutr Cancer. 2006;55(2):109–25.

49. Vucenik I, Shamsuddin AM. Cancer inhibition by inositol hexaphosphate (IP6) and inositol: from laboratory to clinic. J Nutr. 2003;133(11-Suppl-1):3778S–84S.

50. Ogawa S, Kobayashi H, Amada S, et al. Sentinel node detection with (99m)Tc phytate alone is satisfactory for cervical cancer patients undergoing radical hysterectomy and pelvic lymphadenectomy. Int J Clin Oncol. 2010;15(1):52–8.

51. Vucenik I, Shamsuddin AM. Protection against cancer by dietary IP6 and inositol. Nutr Cancer. 2006;55(2):109–25.

52. Vucenik I, Passaniti A, Vitolo MI, Tantivejkul K, Eggleton P, Shamsuddin AM. Anti-angiogenic activity of inositol hexaphosphate (IP6). Carcinogenesis. 2004;25(11):2115–23.

53. Wang H, Khor TO, Shu L, et al. Plants vs. cancer: a review on natural phytochemicals in preventing and treating cancers and their druggability. Anticancer Agents Med Chem. 2012;12(10):1281–305.

54. Yang GY, Shamsuddin AM. IP6-induced growth inhibition and differentiation of HT-29 human colon cancer cells: involvement of intracellular inositol phosphates. Anticancer Res. 1995;15(6B):2479–87.

55. Shamsuddin AM, Yang GY, Vucenik I. Novel anti-cancer functions of IP6: growth inhibition and differentiation of human mammary cancer cell lines in vitro. Anticancer Res. 1996;16(6A):3287–92.

56. Vucenik I, Tantivejkul K, Zhang ZS, Cole KE, Saied I, Shamsuddin AM. IP6 in treatment of liver cancer. I. IP6 inhibits growth and reverses transformed phenotype in HepG2 human liver cancer cell line. Anticancer Res. 1998;18(6A):4083–90.

57. Shamsuddin AM, Yang GY. Inositol hexaphosphate inhibits growth and induces differentiation of PC-3 human prostate cancer cells. Carcinogenesis. 1995;16(8):1975–9.

58. Shamsuddin AM. Anti-cancer function of phytic acid. Int J Food Sci Tech. 2002;37(7):769–82.

59. Sun J, Chu YF, Wu X, Liu RH. Antioxidant and antiproliferative activities of common fruits. J Agric Food Chem. 2002;50(25):7449–54.

60. Olsson ME, Andersson CS, Oredsson S, Berglund RH, Gustavsson KE. Antioxidant levels and inhibition of cancer cell proliferation in vitro by extracts from organically and conventionally cultivated strawberries. J Agric Food Chem. 2006;54(4):1248–55.