Ăn Gì Để Không Chết Vì Ung Thư Vú ?

Ăn Gì Để Không Chết Vì Ung Thư Vú ?
5 (100%) 5 votes

Caroty.com trân trọng gửi đến bạn bài viết: Ăn Gì Để Không Chết Vì Ung Thư Vú ?

“Bạn bị ung thư vú.”

Đây chắc hẳn là một trong những câu nói khiến phụ nữ khiếp sợ nhất. Ngoài ung thư da thì ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ Mỹ. Hàng năm, có khoảng 230.000 người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú, và 40.000 người tử vong vì căn bệnh này.

Bạn không thể mắc ung thư vú chỉ ngay sau một đêm. Khối u mà bạn cảm nhận được thực chất đã bắt đầu hình thành từ mấy chục năm trước. Khi bạn đến gặp bác sĩ và phát hiện ra khối u thì có thể nó đã tồn tại được 40 năm rồi, thậm chí còn lâu hơn thế.2 Ung thư đã hình thành, phát triển và có đến hàng trăm loại đột biến chọn lọc mới, cho phép nó phát triển nhanh hơn trong khi cố làm suy yếu hệ miễn dịch của bạn.

Thực tế đáng sợ là: những “phát hiện sớm” mà bác sĩ nói hóa ra lại là “phát hiện muộn”. Đơn giản là kĩ thuật hình ảnh ngày nay chưa đủ hiện đại để phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm nhất, vì vậy nó có thể lan rộng trước khi được phát hiện.

Một phụ nữ sẽ không được coi là “khỏe mạnh” khi có dấu hiệu hoặc triệu chứng của ung thư vú. Nhưng nếu cô ấy đã bị mắc loại ung thư ác tính trong suốt hai thập kỷ mà vẫn bình thường, thì có thực sự được coi là khỏe mạnh không?

Trên thực tế, những người đang ngăn ngừa ung thư đúng hướng bằng việc cải thiện chế độ dinh dưỡng cũng có thể điều trị nó thành công. Nghiên cứu khám nghiệm tử thi đã chỉ ra rằng khoảng 20% phụ nữ ở độ tuổi từ 20-40 tử vong vì các nguyên nhân khác như tai nạn xe cộ, cũng có bệnh ung thư vú phát triển “tiềm ẩn” bên trong.3

Nhiều khi bạn không biết làm gì để ngăn ngừa giai đoạn đầu của bệnh ung thư, khi mà tế bào vú bình thường đầu tiên đột biến thành tế bào ung thư. Một số loại ung thư vú thậm chí còn bắt đầu từ trong dạ con và có liên quan đến chế độ dinh dưỡng của người mẹ.4

Vì vậy, tất cả chúng ta cần phải chọn cho mình một chế độ ăn và lối sống lành mạnh để không chỉ ngăn ngừa giai đầu của bệnh ung thư mà còn cản trở giai đoạn phát triển về sau, tức là khi kích thước của các tế bào ung thư to dần và có thể gây ra hiểm họa.

Đáng mừng là dù người mẹ ăn gì hoặc khi còn nhỏ bạn có lối sống thế nào thì bạn vẫn có thể kìm hãm tốc độ phát triển của mọi loại ung thư tiềm ẩn bằng cách ăn uống và sống lành mạnh. Tóm lại, bạn có thể chết đi cùng với khối u, nhưng có thể sẽ không phải chết vì khối u đó. Thay đổi chế độ dinh dưỡng chính là cách để vừa phòng ngừa vừa điều trị ung thư.

Nếu chỉ một hoặc hai tế bào ung thư thì sẽ không bao giờ gây ra tổn thương, nhưng nếu con số lên đến một tỷ thì sao? Đó cũng có thể là số lượng tế bào ung thư ở trong khối u 5 được phát hiện ra khi chụp X quang.6

Giống như hầu hết các loại u khác, ung thư vú bắt đầu hình thành chỉ từ một tế bào, sau đó phân chia thành hai, bốn, và tám tế bào. Mỗi lần các tế bào ung thư vú phân chia, kích cỡ khối u có thể tăng gấp lên gấp đôi.7

Hãy xem một khối u nhỏ phải gấp đôi lên bao nhiêu lần để được một tỷ tế bào. Lấy máy tính ra, nhân đôi, được bao nhiêu lại tiếp tục nhân đôi. Cứ làm như vậy cho đến khi được kết quả một tỷ. Đừng lo, sẽ không mất nhiều thời gian đâu. Chỉ 30 lần gấp đôi mà thôi. Và với chỉ 30 lần đó mà từ một tế bào ung thư có thể biến thành một tỉ tế bào khác.

Chìa khóa để tìm ra bạn được chẩn đoán ung thư nhanh thế nào đó là thời gian để gấp đôi. Các khối u mất bao lâu cho một lần gấp đôi như vậy? Ung thư vú có thể gấp đôi kích cỡ ở bất cứ vị trí nào từ 25 ngày 8 đến 1000 ngày hoặc hơn.9 Nói cách khác, có thể là hai năm, hoặc hơn một trăm năm, trước khi khối u bắt đầu hoành hành.

Trong khoảng thời gian hai năm hoặc một thế kỷ đó, bạn có thể bị ung thư ở bất cứ vị trí nào, phụ thuộc một phần vào chế độ ăn của bạn.

Khi tôi còn nhỏ, tôi đã có thói ăn uống rất tệ hại. Một trong những bữa ăn khoái khẩu của tôi là thịt bò chiên lẫn với thịt gà. Khoảng thời gian khi còn nhỏ, rất có thể một trong những tế bào trong ruột già hoặc tuyến tiền liệt của tôi đã biến đổi.

Nhưng trong suốt 25 năm qua tôi đã ăn uống lành mạnh hơn và hy vọng rằng trong tiến trình ung thư phát triển, nếu tôi không cải thiện được nó thì cũng phải khiến nó phát triển chậm lại. Tôi không quan tâm nếu được chẩn đoán mắc bệnh ung thư trong một trăm năm tới. Tôi không muốn phải lo lắng về nó.

Những tranh cãi về chi phí và hiệu quả của chụp X quang 10 đã bỏ qua một điểm quan trọng: Theo lí thuyết thì việc chụp chiếu ung thư vú không thể ngăn ngừa ung thư vú. Nó chỉ có thể nhận diện được sự tồn tại của ung thư vú.

Dựa trên các nghiên cứu khám nghiệm tử thi, có đến 39% phụ nữ ở độ tuổi 40 đã bị ung thư vú nhưng có thể vì quá nhỏ nên khó phát hiện được bằng cách chụp X quang.11 Đó là lý do tại sao bạn nên bắt đầu thói quen ăn uống và sống lành mạnh ngay từ bây giờ, đừng để đến khi quá muộn.

NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA UNG THƯ VÚ

Viện Nghiên Cứu Ung thư Hoa Kỳ (AICR) được xem là một trong những cơ quan tổ chức hàng đầu thế giới về chế độ dinh dưỡng và ung thư. Dựa vào những nghiên cứu chất lượng nhất, viện đã đưa ra 10 khuyến cáo về phòng ngừa ung thư.12

Ngoài bỏ thuốc lá ra, thông điệp mấu chốt của họ là: “Các chế độ dinh dưỡng chủ yếu bao gồm thực vật như rau, ngũ cốc nguyên hạt, trái cây và đậu sẽ giúp giảm guy cơ mắc nhiều loại bệnh ung thư và cả các bệnh khác.”13

Để chứng minh lối sống có ảnh hưởng lớn như thế nào đến nguy cơ mắc ung thư vú, trong khoảng 7 năm, các nhà nghiên cứu đã theo dõi một nhóm khoảng 30.000 phụ nữ ở thời kì sau mãn kinh không có tiền sử bị ung thư vú.

Chỉ thực hiện 3 trong số 10 khuyến cáo của AICR – đó là hạn chế uống rượu, ăn chủ yếu thực phẩm có nguồn gốc thực vật, và duy trì ổn định cân nặng – đã giúp giảm 62% nguy cơ ung thư vú.14 Đúng thế, chỉ cần 3 thay đổi nhỏ về lối sống đã có thể cắt giảm hơn một nửa nguy cơ rủi ro.

Đáng chú ý là nếu ăn chế độ giàu thực vật kết hợp với đi bộ hàng ngày sẽ giúp cải thiện và phòng ngừa ung thư chỉ trong vòng hai tuần. Các nhà nghiên cứu đã trích lấy máu của phụ nữ trước và sau 14 ngày thực hiện lối sống lành mạnh, nhỏ vào các tế bào ung thư vú đang phát triển ở trong đĩa petri.

Kết quả là với cùng đối tượng nghiên cứu, máu  được trích ra sau khi ăn uống lành mạnh đã ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư tốt hơn đáng kể và giết chết được nhiều tế bào ung thư hơn 20-30% so với máu được trích ra hai tuần trước đó.15

Các nhà nghiên cứu đã cho rằng hiệu quả làm giảm lượng hooc môn tăng trưởng thúc đẩy ung thư có tên IGF-1 16 có được là nhờ hạn chế tiêu thụ protein từ động vật.17

Bạn muốn mang trong mình loại máu gì – loại hệ miễn dịch nào? Loại máu mà trở nên yếu thế khi các tế bào ung thư mới xuất hiện, hay loại máu có thể lưu thông đến mọi ngóc ngách trong cơ thể với sức mạnh làm chậm và ngăn chặn các tế bào ung thư trong tầm kiểm soát của nó?

Uống rượu làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú ?

Vào năm 2010, cơ quan chính thức của Tổ Chức Y Tế Thế giới (WHO) khi đánh giá về nguy cơ ung thư đã chính thức liệt rượu vào nhóm chất gây ung thư vú ở người.18  Vào năm 2014, họ đã làm rõ quan điểm của mình bằng cách chỉ ra rằng, đối với ung thư vú, không có giới hạn an toàn nào về lượng rượu.19

Nhưng nếu uống “có trách nhiệm” thì sao? Vào năm 2013, các nhà khoa học đã xuất bản một tập tài liệu bao gồm hơn 100 nghiên cứu về căn bệnh ung thư vú và việc uống rượu nhẹ (uống một loại đồ uống chứa cồn mỗi ngày).

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy có một sự gia tăng nhỏ nhưng đáng chú ý về nguy cơ ung thư vú ở những phụ nữ uống nhiều nhất một lần mỗi ngày. Họ ước tính mỗi năm trên thế giới có gần 5.000 người chết vì ung thư vú và nguyên nhân có thể là do uống rượu nhẹ.20

Chất gây ung thư không phải là rượu. Thủ phạm thực sự là hợp chất rượu phân hủy có độc, còn gọi là acetaldehyde, có thể hình thành trong miệng gần như ngay lập tức sau khi bạn nhâm nhi một chút rượu. Các thí nghiệm chỉ ra rằng thậm chí ngậm một thìa rượu nặng trong miệng khoảng 5 giây trước khi nhổ ra cũng có thể sản sinh ra các chất acetaldehyde gây ung thư, tồn tại kéo dài khoảng hơn 10 phút.21

Nếu chỉ một ngụm rượu đã có thể sản sinh ra chất acetaminophen gây ung thư ở trong miệng, thì dùng nước súc miệng chứa cồn sẽ thế nào? Các nhà nghiên cứu sau khi kiểm tra tác dụng của nhiều loại nước súc miệng bán lẻ trên thị trường và nước rửa miệng đã kết luận rằng mặc dù chỉ có nguy cơ nhẹ nhưng tốt nhất vẫn nên tránh sử dụng các sản phẩm như vậy nếu chúng có chứa cồn.22

Rượu vang đỏ và rượu vang trắng, rượu nào tốt hơn ?

Nghiên Cứu Sức Khỏe của các Y Tá thuộc Harvard nhận thấy dù chỉ chưa đến một lần uống rượu mỗi ngày cũng có thể làm tăng nhẹ nguy cơ ung thư vú.23 Nhưng thú vị là nếu chỉ uống rượu vang đỏ thì sẽ không gây nguy cơ ung thư vú. Tại sao lại như vậy?

Trong rượu vang đỏ chứa một hợp chất có tác dụng ức chế hoạt động của enzym tên là estrogen synthase, các khối u ở ngực sử dụng enzym này để tạo ra estrogen thúc đẩy sự tăng trưởng của chúng.24

Hợp chất này có trong vỏ nho màu tím đậm được sử dụng để làm rượu vang đỏ. Điều này giải thích vì sao rượu vang trắng không mang lại lợi ích tương tự,25 vì nó được sản xuất khi đã loại bỏ lớp vỏ.

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng rượu vang đỏ có thể “cải thiện nguy cơ ung thư vú gia tăng liên quan đến việc uống rượu.”26 Nói cách khác, chất nho có trong rượu vang đỏ giúp loại bỏ một số đặc tính gây ung thư của rượu.

Nhưng bạn có thể gặt hái được nhiều lợi ích mà không gặp phải những rủi ro khi dùng đồ uống có cồn chỉ bằng cách đơn giản là uống nước nho hoặc ăn nho tím – tốt nhất là chọn những loại nho có hạt, vì chúng có khả năng ức chế estrogen synthase hiệu quả nhất.27

Thật may khi biết rằng dâu tây,28 quả lựu,29 và nấm trắng thường 30 cũng có thể ức chế được hoạt động của enzym gây ung thư.

Tìm hiểu thêm bài viết: Rượu vang đỏ, rượu vang trắng, rượu nào tốt hơn ?

Thức khuya làm tăng nguy cơ ung tvú ?

Trải qua hàng tỷ năm, cuộc sống trên Trái đất đã tiến hóa trong điều kiện 12 giờ ánh sáng và 12 bóng tối. Con người đã biết dùng lửa để nấu ăn từ khoảng một triệu năm trước, nhưng chúng ta biết sử dụng nến chỉ mới khoảng 5000 năm nay và sử dụng đèn điện mới chỉ một thế kỉ. Nói cách khác, tổ tiên xưa của chúng ta đã sống nửa cuộc đời trong bóng tối.

Tuy nhiên, ngày nay, do ô nhiễm ánh điện vào ban đêm, nên dải ngân hà duy nhất mà lũ con bạn có thể thấy là bên trong lớp giấy bọc kẹo. Ánh sáng từ đèn điện đã cho phép chúng ta duy trì hoạt động trong nhiều giờ ngắn ngủi, nhưng liệu việc tiếp xúc với loại ánh sáng ban đêm giả tạo này có hại gì đến sức khoẻ không?

Trong triết học, có một lập luận bỏ ngỏ gọi là thuyết ngụy biện hấp dẫn tự nhiên, trong đó có người cho rằng một thứ tốt đẹp đơn giản là vì nó tự nhiên. Tuy nhiên, trong sinh học, điều này có thể ẩn chứa một vài sự thật.

Những tình trạng mà nhờ đó cơ thể được hoàn thiện qua hàng triệu năm đôi khi có thể cho chúng ta hiểu sâu hơn về chức năng tối ưu của mình. Ví dụ, chúng ta đã từng luẩn quẩn khỏa thân ở vùng xích đạo châu Phi. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều người trong chúng ta hiện nay bị thiếu vitamin D (“vitamin ánh nắng”) nếu sống ở các vùng phía Bắc hoặc ở các quốc gia có nền văn hoá mặc kín người đối với phụ nữ.31

Thứ phổ biến như bóng đèn có thể được coi là một may mắn kết hợp không? Ngay ở giữa não của bạn là tuyến yên, còn gọi là mắt thứ ba. Nó được kết nối với đôi mắt thực sự của bạn và chỉ có một chức năng là sản sinh ra hooc môn melatonin.

Trong ngày, tuyến yên thường không hoạt động. Nhưng khi tối dần, nó bắt đầu hoạt hóa và bơm melatonin vào máu. Bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi, kém tỉnh táo và nghĩ đến việc đi ngủ.

Thời gian tiết ra melatonin đỉnh điểm là từ khoảng 2 giờ sáng đến 5 giờ sáng. Và sau đó ngừng tiết vào lúc tảng sáng, đây chính là tín hiệu khiến bạn thức dậy. Hàm lượng melatonin trong máu là một trong những cách để nội tạng của bạn nhận biết thời gian. Nó hoạt động như kim đồng hồ sinh học.32

Ngoài việc giúp điều chỉnh giấc ngủ của bạn, melatonin còn đóng vai trò ức chế sự phát triển của ung thư. Nó giúp đưa các tế bào ung thư vào giấc ngủ khi đêm đến.33

Để xem liệu chức năng này có được áp dụng để ngăn ngừa ung thư vú hay không, các nhà nghiên cứu từ Bệnh viện Brigham và Phụ nữ ở Boston và một số nơi khác đã nảy ra một ý tưởng thông minh khi nghiên cứu những phụ nữ bị mù, đặt ra giả thiết là phụ nữ mù không thể nhìn thấy ánh sáng mặt trời, tuyến yên của họ không ngừng giải phóng melatonin vào máu. Các nhà nghiên cứu đủ bằng chứng để nhận thấy rằng phụ nữ mù chỉ có tỉ lệ mắc ung thư vú bằng một nửa so với phụ nữ có thị lực bình thường.34

Ngược lại, những phụ nữ bị gián đoạn quá trình sản xuất melatonin do làm việc ca đêm thường có nguy cơ cao bị ung thư vú.35 Kể cả sống trên một con phố được thắp điện sáng trưng cũng có thể ảnh hưởng đến nguy cơ mắc bệnh.

Các nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan giữa hình ảnh vệ tinh ban đêm với tỉ lệ ung thư vú đã cho thấy những người sống ở những khu phố sáng sủa có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn.36,37,38 Vì vậy, tốt nhất là khi ngủ nên hạ rèm và tắt hết điện, mặc dù chưa có nhiều bằng chứng ủng hộ cách xử lí này.39

Hàm lượng melatonin có thể được đo bằng lượng melatonin bài tiết ra qua nước tiểu khi chúng ta đi tiểu lần đầu vào buổi sáng. Và thực tế, những phụ nữ tiết nhiều melatonin hơn có tỉ lệ ung thư vú thấp hơn.40

Ngoài việc giảm thiểu tiếp xúc với ánh sáng ban đêm, liệu bạn có thể làm gì khác để duy trì sản xuất melatonin không? Vào năm 2005, các nhà nghiên cứu người Nhật Bản đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc ăn nhiều rau và lượng melatonin cao hơn trong nước tiểu.41

Có loại thức ăn nào làm giảm sản xuất melatonin và bằng cách đó làm tăng nguy cơ ung thư vú? Chúng ta chỉ biết được câu trả lời khi một nghiên cứu toàn diện về chế độ dinh dưỡng và melatonin được xuất bản vào năm 2009.

Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Harvard đã phỏng vấn gần 1000 phụ nữ về việc tiêu thụ 38 loại thực phẩm hoặc nhóm thực phẩm khác nhau và đo lượng melatonin  buổi sáng của họ. Kết quả cho thấy thịt là thực phẩm duy nhất làm giảm khả năng sản xuất melatonin, và vẫn chưa rõ nguyên nhân vì sao.42

Do đó, để giảm thiểu sự gián đoạn sản xuất melatonin bạn bắt đầu ăn nhiều rau hơn, và tránh ăn quá nhiều thịt.

Tập thể dục giúp ngăn ngừa và điều trị ung tvú

Hoạt động thể chất được xem là một biện pháp phòng ngừa ung thư vú đầy triển vọng43 không chỉ vì nó giúp kiểm soát cân nặng mà còn vì tập thể dục giúp làm giảm lượng estrogen tuần hoàn.44

Tập thể dục nhịp điệu mạnh 5 giờ/tuần có thể làm giảm khoảng 20% tiếp xúc với estrogen và progesterone.45 Nhưng bạn có cần phải thực hiện lâu dài để có tác dụng không?

Mặc dù các bài tập thể dục nhẹ nhàng giúp  giảm nguy cơ mắc một số loại ung thư khác, nhưng đối với bệnh ung thư vú thì những chuyến tản bộ nhàn rỗi dường như không thể giúp cắt bỏ được.46

Thậm chí dành ra một giờ mỗi ngày để nhảy chậm hoặc làm việc nhà cũng không giúp ích gì được.47 Theo nghiên cứu lớn nhất từng được công bố về đề tài này, chỉ những phụ nữ hoạt động ra mồ hôi ít nhất 5 lần/tuần mới có khả năng bảo vệ đáng kể.48

Tuy vậy, hoạt động cường độ vừa phải có thể mang lại nhiều lợi ích như hoạt động cường độ mạnh.49 Đi bộ với tốc độ vừa phải một giờ mỗi ngày được coi là một mức tập luyện cường độ vừa phải, nhưng nó đã không được đưa vào thử nghiệm cho đến khi một nghiên cứu năm 2013 báo cáo rằng thực sự đi bộ ít nhất một giờ mỗi ngày giúp giảm đáng kể nguy cơ ung thư vú.50

Darwin đã đúng: Điểm mấu chốt là sự chọn lọc tự nhiên- vì vậy hãy cố gắng tập luyện!

Ăn đồ nướng, chín kỹ làm tăng nguy cơ ung thư vú ?

Năm 1939, một phát hiện kỳ ​​lạ đã được công bố trên tờ báo có tên “Sự Hiện Diện Của Các Chất Gây Ung Thư Trong Đồ Nướng.” Một nhà nghiên cứu đã mô tả cách gây ung thư vú ở chuột bằng cách đưa vào đầu chúng chất chiết xuất từ cơ ngựa nướng.51

Những chất gây ung thư này được phát hiện ra chính là amin dị vòng (HCAs), Viện Ung Thư Quốc Gia mô tả chúng là “các hóa chất được hình thành khi thịt bò, thịt lợn, cá và gia cầm, được nấu chín bằng các phương pháp xử lý nhiệt độ cao.”52

Các phương pháp chế biến này bao gồm quay, rán, nướng vỉ và nướng lò. Ăn thịt luộc có lẽ là cách an toàn nhất. Những người không bao giờ ăn thịt vượt quá 212 độ Fahrenheit sẽ thải ra ít nước tiểu và phân hơn so với những người ăn thịt chín khô ở nhiệt độ cao.53

Như vậy có nghĩa là trong cơ thể họ có ít chất gây đột biến đi qua máu và tiếp xúc với ruột hơn. Mặt khác, gà nướng khoảng 15 phút ở nhiệt độ khoảng 350 độ Fahrenheit sẽ sản xuất ra chất gây ung thư HCA.54

HCA được hình thành từ một phản ứng hóa học giữa một số hợp chất của mô cơ ở điều kiện nhiệt độ cao. (những chất này không có trong thực vật, do đó ngay cả bánh burger kẹp rau được chiên lên cũng không chứa HCA).55

Thịt được nấu chín càng lâu thì càng hình thành nhiều HCA. Do vậy,  ăn thịt chín kĩ sẽ góp phần làm tăng nguy cơ ung thư vú, ruột, thực quản, phổi, tuyến tụy, tuyến tiền liệt và dạ dày.56

Tình huống này đã tạo ra cái mà Tạp chí Sức Khỏe Harvard gọi là “nghịch lý” chuẩn bị thịt57: Nấu thịt chín kĩ làm giảm nguy cơ nhiễm bệnh do ngộ độc thực phẩm, nhưng lại có thể làm tăng nguy cơ sản sinh ra các chất gây ung thư.

Các amin dị vòng gây ra ung thư ở loài gặm nhấm không có nghĩa là chúng gây ung thư ở người. Tuy nhiên trong trường hợp này, người thậm chí còn dễ bị mắc bệnh hơn. Các tế bào gan của loài gặm nhấm có khả năng giải độc đến 99% chất HCA mà các nhà khoa học đã nhét vào cổ họng chúng (nhờ kỹ thuật đưa thức ăn vào dạ dày bằng ống ).58

Tuy nhiên, vào năm 2008, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng gan của những người ăn gà nấu chín chỉ có khả năng giải độc được khoảng một nửa các chất gây ung thư HCA, cho thấy nguy cơ mắc ung thư cao hơn nhiều so với dự đoán khi làm thí nghiệm ở chuột.59

Theo Dự Án Nghiên Cứu Ung Thư Vú Long Island năm 2007, các chất gây ung thư có trong thịt nấu chín giải thích tại sao những phụ nữ thường xuyên ăn nhiều thịt nướng, thịt hun khói có tỉ lệ ung thư vú cao hơn 47%.60

Và Nghiên Cứu Sức Khỏe Phụ Nữ Iowa nhận thấy những phụ nữ ăn thịt xông khói, thịt bò bít tết và bánh burger kẹp rau “chín rất kĩ” có tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú gần gấp 5 lần so với những phụ nữ thích ăn kiểu chín tái hoặc chín vừa phải.61

Để biết những gì đang diễn ra bên trong vú, các nhà nghiên cứu đã hỏi những phụ nữ mà đang phải trải qua phẫu thuật giảm ngực về phương pháp chế biến thịt của họ. Các nhà khoa học đã tìm ra mối liên hệ giữa việc tiêu thụ thịt chiên rán với việc tổn thương DNA bên trong mô vú của phụ nữ,62 đây là một loại tổn thương có thể khiến một tế bào bình thường đột biến thành tế bào ung thư.63

HCA vừa có thể gây ra ung thư lại vừa có thể thúc đẩy sự phát triển của ung thư. PhIP, một trong những loại HCA dồi dào nhất có trong thịt nấu chín, có tác dụng mạnh như estrogen , kích thích sự tăng trưởng tế bào ung thư vú ở người mạnh ngang với estrogen bình thường,64 hầu hết các khối u vú ở người đều phát triển mạnh tại đây.

Nhưng kết quả đó dựa trên nghiên cứu trong đĩa petri. Làm sao chúng ta biết được các chất gây ung thư từ thịt nấu chín tìm được đường đi vào các ống dẫn ở ngực – hầu hết các bệnh ung thư vú đều phát sinh từ đây ?

Chúng ta không hề biết được cho đến khi các nhà nghiên cứu đo được lượng PhIP trong sữa mẹ của những phụ nữ không hút thuốc. (HCA cũng có trong khói thuốc.)65  Trong nghiên cứu này, họ đã tìm thấy PhIP trong sữa của những phụ nữ ăn lượng thịt đủ để thúc đẩy sự tăng trưởng của tế bào ung thư vú.66 Trong khi đó, không hề tìm thấy PhIP trong sữa mẹ của người ăn chay.67

Một nghiên cứu so sánh lượng PhIP trong tóc người cũng có phát hiện tương tự. Hóa chất này được phát hiện trong mẫu tóc của cả 6 người ăn thịt, nhưng chỉ có ở 1 trong 6 người ăn chay.68  (HCA cũng có thể được tìm thấy trong trứng rán.)69

Cơ thể của bạn có thể tự loại bỏ được những chất độc này nhanh chóng nếu ngừng tiếp xúc với chúng. Thực tế, lượng PhIP trong nước tiểu có thể giảm xuống con số 0 trong vòng 24 giờ không ăn thịt.70  Vì vậy, nếu bạn thực hiện kế hoạch Thứ Hai Không Thịt, thì đến sáng thứ 3 lượng PhIP sẽ không còn trong cơ thể bạn nữa.

Nhưng PhIP không chỉ có từ nguồn thức ăn. Lượng HCA trong cơ thể những người ăn chay hút thuốc có thể ngang với những người ăn thịt không hút thuốc.71

Amin dị vòng PhIP không chỉ là một chất gây ung thư “hoàn hảo”- vừa gây ra vừa thúc đẩy chúng phát triển, mà nó còn khiến ung thư lan truyền dễ dàng. Ung thư phát triển ở ba giai đoạn chính: 1) giai đoạn đầu, tổn thương ADN không thể hồi phục; 2) giai đoạn phát triển, sự tăng trưởng và phân chia tế bào ban đầu thành khối u; 3) giai đoạn xúc tiến mạnh, khối u xâm nhập vào mô xung quanh và di căn (lan truyền) sang các vùng khác của cơ thể.

Các nhà khoa học có thể kiểm chứng một loại ung thư xâm nhập và tấn công hung hăng như thế nào bằng cách đưa tế bào ung thư vào một dụng cụ được gọi là khoang xâm nhập.

Họ đặt các tế bào ung thư vào một mặt của màng xốp, rồi đánh giá khả năng xâm nhập và lan truyền qua màng tế bào của chung. Khi các nhà nghiên cứu đặt các tế bào ung thư vú di căn của một phụ nữ 54 tuổi vào khoang xâm nhập, tương đối ít tế bào có khả năng phá vỡ rào cản. Nhưng trong vòng 72 giờ sau khi thêm PhIP vào khoang, các tế bào ung thư trở nên xâm nhập mạnh hơn, đi qua màng với tốc độ gia tăng nhanh chóng.72

Vì thế mà PhIP trong thịt có thể là một loại chất gây ung thư mà một khi đã tấn công thì sẽ gây hậu quả khôn lường, liên quan đến mọi giai đoạn phát triển của ung thư vú. Tuy nhiên, từ bỏ một thứ không phải là dễ dàng, cũng giống như từ bỏ chế độ ăn tiêu chuẩn của Mỹ. Như các nhà nghiên cứu có nhấn mạnh rằng: “Việc tiếp xúc với PhIP là rất khó tránh khỏi vì nó có nhiều trong các loại thịt nấu chín hay được tiêu thụ, đặc biệt là thịt gà, thịt bò và cá.”73

Cholesterol làm tăng nguy cơ ung thư vú ?

Một nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Ung Thư Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng thực hiện theo hướng dẫn phòng chống ung thư của Viện không chỉ làm giảm nguy cơ ung thư vú mà còn giảm nguy cơ bệnh tim.74

Hơn nữa, không chỉ chế độ ăn lành mạnh để ngăn ngừa ung thư giúp ngăn ngừa bệnh tim, mà ngược lại chế độ ăn để ngăn ngừa bệnh tim cũng có thể giúp ngăn ngừa ung thư. Lý do là gì? Cholesterol đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển và tiến triển của ung thư vú.75

Ung thư phát triển nhờ vào cholesterol. LDL cholesterol kích thích sự tăng trưởng của các tế bào ung thư vú trong đĩa petri – chúng chỉ cần hấp thụ cholesterol xấu để lớn dần lên.

Các khối u có thể hút nhiều cholesterol đến mức hàm lượng cholesterol ở bệnh nhân ung thư thường giảm mạnh khi ung thư phát triển.76 Đây không phải là dấu hiệu tốt vì khi sự hấp thụ cholesterol ở mức cao nhất thì khả năng sống sót của bệnh nhân cũng ở mức thấp nhất.77

Ung thư sử dụng cholesterol để tạo ra estrogen hoặc để chống đỡ màng tế bào khối u nhằm giúp tế bào ung thư di chuyển và xâm nhập vào nhiều mô hơn.78 Nói cách khác, các khối u ở vú có thể tận dụng lượng cholesterol tuần hoàn cao để kích hoạt và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của chúng.79

Tận dụng việc đói cholesterol của ung thư, các công ty dược phẩm đã cân nhắc sử dụng LDL cholesterol để làm thuốc ngụy trang nhưng thực chất là nhằm chống lại các tế bào ung thư80.

Mặc dù kết hợp nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, nhưng nghiên cứu lớn nhất về cholesterol và ung thư tính đến nay, bao gồm hơn một triệu người tham gia, đã nhận thấy nguy cơ gia tăng 17% ở những phụ nữ có tổng hàm lượng cholesterol trên 240 so với những phụ nữ có hàm lượng cholesterol dưới 160.81 Nếu giảm lượng cholesterol có thể giúp giảm nguy cơ ung thư vú, vậy thì có nên uống thuốc statin để hạ cholesterol không?

Trong nghiên cứu sử dụng đĩa petri, thuốc statin có vẻ khả quan, nhưng các nghiên cứu dân số so sánh tỉ lệ ung thư vú giữa những người sử dụng thuốc statin và những người không sử dụng thuốc statin lại cho thấy kết quả đầy mâu thuẫn.

Một số loại thuốc statin đã làm giảm nguy cơ ung thư vú, trong khi một số khác lại cho thấy nguy cơ gia tăng. Tuy nhiên, hầu như tất cả những nghiên cứu này đều được tiến hành trong khoảng thời gian tương đối ngắn. Họ cho rằng 5 năm sử dụng thuốc statin đã là đủ dài, nhưng thực chất ung thư vú có thể mất đến hàng thập kỷ để phát triển.82

Nghiên cứu lớn đầu tiên về nguy cơ gây ung thư vú khi sử dụng statin trong 10 năm hoặc lâu hơn đã được xuất bản vào năm 2013. Theo đó, những phụ nữ dùng thuốc statin trong khoảng 10 năm trở lên có nguy cơ cao gấp đôi mắc cả hai loại ung thư vú xâm lấn thông thường: ung thư biểu mô ống động mạch xâm lấn và ung thư biểu mô tiểu thùy xâm lấn.83

Thuốc cholesterol có thể làm tăng gấp đôi nguy cơ. Nếu được công nhận, những gợi ý hướng đến sức khoẻ cộng đồng của những phát hiện này rất đáng chú ý: Cứ 4 phụ nữ Hoa Kỳ trên 45 tuổi lại có 1 người dùng các loại thuốc này.84

Kẻ giết người số một của phụ nữ là bệnh tim, không phải ung thư vú, vì vậy phụ nữ vẫn cần phải giảm lượng cholesterol trong cơ thể. Bạn có thể làm được việc này mà không cần đến thuốc, chỉ cần ăn uống lành mạnh, ăn nhiều thực vật, một số thực phẩm nguồn gốc thực vật có đặc tính bảo vệ đặc biệt.

PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ NHỜ ĂN NHIỀU THỰC VẬT

Cách đây không lâu, tôi nhận được một ghi chép rất cảm động từ Bettina, một người phụ nữ đã theo dõi các bài của tôi trên  NutritionFacts.org. Bettina đã được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú bộ ba âm tính giai đoạn hai – loại khó chữa nhất. Cô đã trải qua 8 tháng điều trị, bao gồm cả phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Bị chẩn đoán ung thư vú đã đủ căng thẳng rồi, nhưng căn bệnh quái ác này còn có thể gây ra lo lắng và trầm cảm.

Tuy nhiên Bettina bằng kinh nghiệm của mình đã làm nên những thay đổi tích cực trong cuộc đời của cô ấy. Sau khi xem các video của tôi, cô ấy bắt đầu thói quen ăn uống lành mạnh hơn. Cô đã làm theo những khuyến để giúp ngăn ngừa tái phát ung thư, chẳng hạn như ăn thêm nhiều bông cải xanh và hạt lanh. Thật tuyệt vời: Bettina đã không còn bị ung thư trong suốt hơn ba năm nay.

Với tất cả các nghiên cứu tôi đã đọc qua, thật dễ dàng để tôi quên rằng các số liệu thống kê đề cập đến cuộc sống của người dân. Những câu chuyện như của Bettina đã giúp tôi để ý đến tất cả những thông tin và số liệu khách quan. Khi có những con người thật làm nên những thay đổi thật thì họ sẽ nhận được kết quả thật xứng đáng.

Nhưng đáng tiếc là, ngay cả sau khi được chẩn đoán mắcung thư vú, hầu hết phụ nữ vẫn không thể thay đổi chế độ ăn cũ bằng chế độ ăn lành mạnh, ví dụ như hạn chế ăn thịt, ăn nhiều trái cây và rau củ.85

Có lẽ họ không nhận ra (hoặc bác sĩ chưa bao giờ nói với họ) rằng một lối sống lành mạnh có thể cải thiện cơ hội sống sót của họ. Ví dụ, một nghiên cứu ở gần 1.500 phụ nữ cho thấy rằng những thay đổi đơn giản như ăn ít nhất 5 phần trái cây và rau mỗi ngày kết hợp với đi bộ 30 phút 6 ngày/tuần liên quan đáng kể đến lợi ích sống còn. Những người làm theo khuyến cáo này có gần một nửa nguy cơ tử vong do ung thư trong 2 năm sau khi chẩn đoán.86

Những câu chuyện như của Bettina khiến số liệu thống kê trở nên dễ truyền tải hơn, nhưng tất cả đều phải trở lại dưới góc nhìn khoa học. Càng ngày chế độ dinh dưỡng càng có vai trò quyết định chuyện sống chết của chúng ta. Làm thế nào chúng ta có thể nắm quyền quyết định mà vẫn đảm bảo cân bằng các cơ sở dẫn chứng khoa học hiệu quả nhất?

Bổ sung nhiều chất xơ làm giảm nguy cơ ung thư vú

Thiếu chất xơ cũng có thể là một yếu tố nguy cơ gây ung thư vú. Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Yale và một số nơi khác đã phát hiện ra rằng những phụ nữ tiền mãn kinh ăn nhiều hơn khoảng 6 gam chất xơ hòa tan mỗi ngày (tương đương khoảng một chén đậu đen) có tỉ lệ ung thư vú thấp hơn 62% so với những phụ nữ tiêu thụ dưới 4 gam mỗi ngày.

Chất xơ dường như còn có tác dụng với cả khối u vú thụ thể estrogen âm tính – khó điều trị hơn: phụ nữ tiền mãn kinh thực hiện chế độ ăn giàu chất xơ có tỉ lệ mắc ung thư vú loại này thấp hơn 85%.

Các nhà nghiên cứu đã làm thế nào để đưa ra được những số liệu này? Nghiên cứu Yale là một dạng nghiên cứu đối chứng dựa trên quan sát. Các nhà khoa học đã so sánh chế độ ăn trước đây của những phụ nữ bị ung thư vú (nhóm gốc) với chế độ ăn trước đây của những phụ nữ không bị ung thư vú (nhóm đối chứng) để tìm hiểu liệu có gì khác biệt về thói quen ăn uống của những phụ nữ đang bị bệnh.

Kết quả là họ nhận thấy một số phụ nữ bị ung thư vú trung bình ăn ít chất xơ hoà tan hơn so với những phụ nữ không bị ung thư. Do đó, chất xơ hòa tan có thể có tác dụng bảo vệ.

Tuy nhiên, những phụ nữ tham gia nghiên cứu không tiêu thụ chất xơ từ thực phẩm bổ sung mà từ thức ăn hàng ngày. Nhưng điều này có nghĩa là ăn nhiều chất xơ chỉ đơn thuần là bằng chứng cho thấy những phụ nữ không bị ung thư đang ăn nhiều thực vật hơn, nó cũng là nguồn chất xơ tự nhiên duy nhất.

Do đó, bản thân chất xơ có thể không phải là thành phần hoạt chất. Trong thực vật chắc hẳn phải chứa thứ gì đó có tác dụng bảo vệ . Các nhà nghiên cứu cho biết “Mặt khác, tiêu thụ nhiều chất xơ từ các thực phẩm có nguồn gốc thực vật … có thể phản ánh việc giảm tiêu thụ thực phẩm có nguồn gốc động vật …”88

Nói cách khác, vấn đề không phải là ăn nhiều cái gì, mà là ăn ít cái gì. Lý do ăn nhiều chất xơ làm giảm nguy cơ ung thư vú có thể là vì ăn nhiều đậu hơn hoặc cũng có thể là vì ăn ít món xúc xích thịt bologna hơn.

Dù thế nào thì một phân tích được tổng hợp từ nhiều nghiên cứu đối chứng về ung thư vú cũng đưa ra những kết quả tương tự, với nguy cơ ung thư vú thấp hơn liên quan đến các chỉ số tiêu thụ trái cây và rau quả, như lượng vitamin C, và nguy cơ ung thư vú cao hơn liên quan đến lượng chất béo bão hòa (chỉ số tiêu thụ thịt, sữa và thức ăn chế biến sẵn). Và theo những nghiên cứu này, càng ăn nhiều thực phẩm có nguồn gốc thực vật thì càng tốt cho sức khoẻ của bạn: 20 gam chất xơ mỗi ngày giúp giảm 15% nguy cơ ung thư vú.89

Thế nhưng trung bình phụ nữ Mỹ ăn chưa đến 15 gam chất xơ mỗi ngày – tức là chỉ bằng khoảng một nửa nhu cầu khuyến nghị tối thiểu hàng ngày tối thiểu.92  Thậm chí một người ăn chay ở Hoa Kỳ trung bình cũng chỉ tiêu thụ 20 gam mỗi ngày.93 Tuy nhiên, những người ăn chay lành mạnh hơn có thể ăn đến 37 gam/ngày, và với người ăn thuần chay là 46 gam/ngày.94 Trong khi đó, chế độ ăn giàu thực vật và thực phẩm nguyên chất được áp dụng để đảo ngược bệnh mãn tính có chứa trên 60 gam chất xơ.95

Ăn táo giúp giảm nguy cơ ung thư vú ?

“Liệu ăn một quả táo một ngày có thể thắng được chuyên gia ung thư không?” Đây là tiêu đề của một nghiên cứu được công bố trong Biên Niên Sử Về Ung Thư Học nhằm xác định xem ăn một trái táo mỗi ngày (hoặc nhiều hơn) có liên quan đến việc giảm nguy cơ ung thư hay không.

Kết quả là: So với những người trung bình ăn chưa đến một quả táo mỗi ngày thì những người ăn táo hàng ngày có tỉ lệ ung thư vú thấp hơn 24%, cũng như giảm được đáng kể nguy cơ ung thư buồng trứng, ung thư thanh quản và ung thư đại trực tràng. Đặc tính bảo vệ vẫn còn ngay cả sau khi xem xét lượng rau củ quả của những đối tượng này, cho thấy ăn táo hàng ngày không chỉ là một dấu hiệu ăn uống lành mạnh.96

Tác dụng ngăn ngừa ung thư của táo có là nhờ đặc tính chống oxy hóa của nó. Các chất chống oxy hoá này tập trung trong vỏ táo, vì thế mà nói: Vỏ là lớp đầu tiên của trái cây bảo vệ chống lại thế giới bên ngoài. Tiếp xúc với lớp ruột bên trong, nó bắt đầu chuyển màu nâu (oxy hóa) chỉ trong chốc lát. Sức mạnh chống oxy hoá của vỏ có thể lớn gấp từ 2 lần (táo Golden Delicious) đến 6 lần (táo Idared) so với phần ruột táo.97

Ngoài việc bảo vệ chống lại các gốc tự do ban đầu tác động vào DNA, thí nghiệm trong đĩa petri còn cho thấy chiết xuất táo có thể ngăn chặn sự phát triển của cả hai loại tế bào ung thư vú thụ thể estrogen dương tính và âm tính.98

Khi các nhà nghiên cứu tại trường của tôi, Đại học Cornell, lấy riêng chiết xuất vỏ và ruột của cùng một quả táo rồi nhỏ vào các  tế bào ung thư, họ nhận thấy vỏ ngăn chặn sự phát triển của ung thư hiệu quả hơn gấp 10 lần.99

Tìm hiểu thêm bài viết: Quả Táo – Thành phần dinh dưỡng và lợi ích đối với sức khỏe

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra một thứ trong vỏ táo hữu cơ (cũng có thể có trong loại táo thông thường) có khả năng tái kích hoạt một loại gen ức chế khối u gọi là maspin (viết tắt của chất ức chế nhóm enzym serine protease của vú). Maspin là một trong những công cụ mà cơ thể bạn có thể sử dụng để ngăn ngừa ung thư vú. Các tế bào ung thư vú tìm cách để chặn gen này, nhưng vỏ táo lại có thể khiến nó hoạt động trở lại. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng “không nên loại bỏ vỏ táo ra khỏi chế độ ăn.”100

Phòng Ngừa Ung Thư Vú Nhờ Rau Xanh

Trước đây, tôi đã thảo luận về nghiên cứu phụ nữ Long Island năm 2007, chỉ ra mối liên hệ giữa các amin dị vòng được hình thành trong thịt và nguy cơ ung thư vú . Phụ nữ lớn tuổi ăn nhiều thịt nướng hoặc thịt hun khói có tỉ lệ ung thư vú tăng 47%. Những người ăn nhiều thịt và ăn ít rau quả thì có tỉ lệ cao hơn 74%.101

Nhìn chung, ăn ít rau củ quả có thể chỉ là một dấu hiệu của thói quen sống không lành mạnh, nhưng ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy trong chúng có chất bảo vệ chống lại ung thư vú.

Ví dụ, các loại rau họ cải như bông cải xanh giúp tăng cường hoạt động của enzyme giải độc trong gan. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu ăn bông cải xanh và các loại bắp cải, cơ thể sẽ giải phóng được caffeine nhanh hơn – có nghĩa là nếu bạn ăn nhiều rau cải, bạn sẽ phải uống thêm cà phê để cân bằng lại bởi vì gan của bạn (máy lọc của cơ thể ) bắt đầu gào rú.102  Quá trình này có hiệu quả đối với những chất gây ung thư có trong thịt nấu chín không?

Để tìm hiểu, các nhà nghiên cứu đã chọn một nhóm người không hút thuốc và cho họ ăn thịt chiên. Sau đó tiến hành đo hàm lượng amin dị vòng đang lưu thông trong cơ thể bằng cách lấy mẫu nước tiểu của họ.

Trong hai tuần, các đối tượng tham gia nghiên cứu đã bổ sung thêm khoảng ba chén bông cải xanh và bắp cải vào khẩu phần ăn hàng ngày và sau đó ăn lượng thịt như nhau. Mặc dù họ tiêu thụ cùng một lượng chất gây ung thư, nhưng trong nước tiểu của họ lại có ít hơn rất nhiều, phù hợp với khả năng khử độc gan nhờ ăn bông cải xanh của đối tượng tham gia.103

Diễn biến tiếp theo thật bất ngờ. Các đối tượng đã ngừng ăn rau, và hai tuần sau đó, lại tiếp tục ăn thịt. Có lẽ, khả năng khử độc các chất gây ung thư sau đó sẽ giảm trở lại mức bình thường. Nhưng thay vào đó, chức năng gan của họ vẫn được tăng cường thậm chí là nhiều tuần sau đó.104

Phát hiện này cho thấy rằng không chỉ ăn nhiều bông cải xanh với thịt nướng mới làm hạn chế khả năng tiếp xúc với chất gây ung thư mà ăn rau nhiều ngày hoặc thậm chí nhiều tuần trước khi ăn thịt nướng cũng giúp tăng cường bảo vệ. Tuy nhiên, burger nhiều rau có thể là lựa chọn an toàn nhất, vì nó không chứa amin dị vòng để giải độc.105

Vậy phụ nữ ăn nhiều rau xanh có ít bị ung thư vú hơn không? Một nghiên cứu ở 50.000 phụ nữ Mỹ gốc Phi (thường không được tham gia vào nghiên cứu y học, nhưng lại là nhóm dân số thường xuyên ăn nhiều rau xanh) phát hiện ra rằng những người ăn ít nhất hai phần rau mỗi ngày đã giảm đáng kể nguy cơ mắc một loại ung thư vú rất khó điều trị, thụ thể estrogen và progesteron âm tính.106 Bông cải xanh phát huy đặc tính bảo vệ rất tốt đối với phụ nữ tiền mãn kinh, nhưng bắp cải xanh lại làm giảm nguy cơ ung thư vú ở mọi lứa tuổi.107

Bông cải xanh giúp tiêu diệt ung tvú

Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn đang phải chiến đấu với căn bệnh ung thư vú hoặc đang thuyên giảm bệnh? Rau xanh vẫn có thể bảo vệ bạn. Trong thập kỷ qua, các nhà khoa học đã phát triển một lý thuyết mới về sinh học ung thư dựa trên vai trò của tế bào gốc.

Tế bào gốc là nguyên liệu thô của cơ thể- còn gọi là tế bào mẹ vì nó tạo ra tất cả các tế bào khác với chức năng chuyên biệt. Kết quả là các tế bào gốc là một thành phần quan trọng trong hệ thống phục hồi của cơ thể, bao gồm tái tạo da, xương và cơ.

Các mô vú tự nhiên có nhiều tế bào gốc dự trữ, được sử dụng trong thời kỳ mang thai để tạo ra các tuyến sữa mới.108 Tuy nhiên, với sự khác thường của tế bào gốc, sự bất tử của chúng cũng có thể có tác dụng ngược lại. Thay vì tái xây dựng các cơ quan, nếu chúng bị ung thư, chúng sẽ hình thành nên các khối u.109

Các tế bào gốc bị ung thư có thể là lý do tại sao ung thư vú có thể trở lại, thậm chí đến 25 năm sau lần đầu tiên thành công chống trả.110 Khi nói ai đó đã khỏi ung thư, có nghĩa là khối u trong họ đã biến mất, nhưng nếu tế bào gốc bị ung thư, khối u vẫn có thể xuất hiện trở lại sau nhiều năm.

Tiếc là, một người khỏi ung thư được 10 năm có thể  coi là đã chữa trị được, nhưng thực ra chỉ là đang thuyên giảm. Các tế bào gốc ung thư đang âm ỉ trong cơ thể chỉ đang chờ đợi để bùng lên.

Việc sử dụng các loại thuốc hóa học tinh vi và phương pháp xạ trị hiện tại đều được dựa trên mẫu động vật. Thành công của một ca điều trị nhất định thường phụ thuộc vào khả năng teo nhỏ khối u ở loài gặm nhấm- nhưng những con chuột trong phòng thí nghiệm dù thế nào cũng chỉ sống được khoảng 2-3 năm.

Các bác sĩ cố làm teo nhỏ các khối u lại, nhưng các tế bào gốc đột biến vẫn có thể tiềm ẩn, và từ từ hình thành nên các khối u mới trong những năm tiếp theo.111

Việc chúng ta cần làm là đánh vào tận gốc căn bệnh ung thư này. Chúng ta cần phải nghĩ ra phương pháp điều trị không chỉ nhằm giảm kích cỡ khối u mà còn nhằm “đánh vào tâm điểm của khối u”:112 chính là những tế bào gốc ung thư.

Đây là lúc cần đến sự can thiệp của bông cải xanh.

Tìm hiểu thêm bài viết: Bông cải xanh – Thành phần dinh dưỡng và lợi ích đối với sức khỏe

Sulforaphane, một hợp chất dinh dưỡng có trong rau họ cải như bông cải xanh, đã được chứng minh là giúp ức chế khả năng tạo thành các khối u của tế bào gốc ung thư vú.113

Điều này có nghĩa là nếu bệnh của bạn đang thuyên giảm, về mặt lý thuyết, ăn nhiều bông cải xanh sẽ giúp ngăn ngừa ung thư quay trở lại. (Tôi nói theo lý thuyết bởi vì đây là kết quả thu được khi thí nghiệm với đĩa petri.)

Để là một chiến binh tiêu diệt ung thư hữu ích, sulforaphane đầu tiên sẽ phải được hấp thụ vào máu khi bạn ăn bông cải xanh. Sau đó, nó sẽ phải tích tụ lại đến cùng một nồng độ trong các mô vú để phản công lại các tế bào gốc ung thư trong phòng thí nghiệm.

Có thể làm được điều đó không? Một nhóm sáng kiến tại Đại học Johns Hopkins đã tìm cách nghiên cứu vấn đề này. Các nhà nghiên cứu đã yêu cầu những phụ nữ chuẩn bị  ​​phẫu thuật giảm ngực uống nước ép bông cải xanh một giờ trước khi thực hiện.

Sau khi phẫu thuật cắt bỏ mô vú, các nhà nghiên cứu đã tìm ra dấu hiệu của mảng tích tụ sulforaphane.114   Nói cách khác, dưỡng chất chống ung thư có trong bông cải xanh đã biết cách thực hiện đúng nhiệm vụ của nó khi chúng ta nuốt chúng.

Tuy nhiên, để đạt được nồng độ sulforaphane trong vú đủ để ức chế các tế bào gốc ung thư vú, bạn phải ăn ít nhất 1/4 chén bông cải xanh mỗi ngày.115 Bạn có thể mua bông cải xanh ở các cơ sở sản xuất, nhưng trồng ở nhà cũng rất rẻ và dễ trồng . Chúng có một chút vị cay của cải, vì vậy tôi muốn trộn chúng với salad để bớt nồng.

Hiện vẫn chưa có thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên nào biết được liệu những người ăn bông cải xanh sống sót sau ung thư vú có sống lâu hơn so với những người không ăn hay không, nhưng không nhận thấy bất lợi nào và chỉ có những tác dụng phụ tích cực, nên tôi muốn khuyên mọi người ăn bông cải xanh và những loại rau cải khác.

Hạt lanh giúp giảm nguy cơ ung thư vú

Hạt lanh là một trong những loại thực phẩm đầu tiên được coi là lành mạnh, nổi tiếng nhờ đặc tính chữa bệnh ít nhất là từ thời Hy Lạp cổ đại, khi mà nhà vật lí nổi tiếng Hippocrates viết về cách sử dụng chúng để điều trị cho bệnh nhân.116

Được biết đến như là một trong những nguồn thực vật giàu axit béo omega-3 thiết yếu nhất, hạt lanh đặc biệt nhờ chứa hàm lượng lignan. Mặc dù lignan cũng khá phổ biến trong giới thực vật nhưng hạt lanh lại có nhiều lignan gấp 100 lần so với các thực phẩm khác.117 Lignan là gì?

Lignan là một loại phytoestrogen (hợp chất thực vật) có thể làm giảm tác dụng của estrogen. Đây là lý do tại sao hạt lanh được coi là phương pháp trị liệu y học đầu tiên đối với chứng đau bụng kinh nguyệt.118

Nói về nguy cơ ung thư vú, ăn khoảng một muỗng canh hạt lanh mỗi ngày có thể kéo dài chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ khoảng một ngày.119 Điều này có nghĩa là sẽ có ít kinh nguyệt hơn, do đó, cũng ít tiếp xúc estrogen hơn và giảm nguy cơ ung thư vú.120

Nếu nói chính xác thì bông cải xanh không chứa sulforaphane, tương tự như vậy hạt lanh cũng không chứa lignan, mà chỉ chứa tiền chất lignan cần được kích hoạt bởi các lợi khuẩn trong ruột.

Vai trò của vi khuẩn đường ruột có thể giúp giải thích tại sao những phụ nữ bị nhiễm trùng đường tiết niệu thường có nguy cơ ung thư vú cao hơn: Mỗi loại kháng sinh mà bạn uống có thể giết chết vi khuẩn một cách bừa bãi, có nghĩa là nó có thể cản trở khả năng của lợi khuẩn trong ruột tận dụng lignan trong chế độ ăn.121 (tuy nhiên bạn chỉ nên dùng kháng sinh khi cần thiết.)

Uống Lignan có thể làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ sau mãn kinh,122 nhờ tác dụng làm giảm estrogen của lignan. Nhưng vì lignan có trong các loại thực phẩm lành mạnh như quả mọng, ngũ cốc nguyên hạt, và rau lá xanh, nên có thể lignan chỉ là dấu hiệu của một chế độ ăn lành mạnh?

Khi tiến hành thí nghiệm trong đĩa petri, lignan đã trực tiếp ức chế sự gia tăng của các tế bào ung thư vú.123 Nhưng bằng chứng rõ ràng nhất chỉ ra tính chất đặc biệt của loại dưỡng chất thực vật này đến từ những thử nghiệm can thiệp, mở đầu bằng một nghiên cứu năm 2010 được tài trợ bởi Viện Ung Thư Quốc gia.

Các nhà nghiên cứu đã chọn ra khoảng 45 phụ nữ có nguy cơ cao bị ung thư vú – có nghĩa là họ có sinh thiết vú đáng ngờ hoặc trước đây đã từng bị ung thư vú – và cho họ ăn khoảng hai thìa hạt lanh mỗi ngày.

Sinh thiết kim mô vú được thực hiện trước và sau nghiên cứu kéo dài một  năm. Kết quả là : Trung bình, phụ nữ có sự thay đổi tiền ung thư vú sau một năm tiêu thụ lignan từ hạt lanh ít hơn so với trước đó. 80% (36 trong số 45 người) đã giảm hàm lượng Ki-67, một dấu hiệu sinh học (chỉ số) của tăng sinh tế nào. Phát hiện này cho thấy rắc một vài thìa bột hạt lanh vào cháo bột yến mạch hoặc bất cứ thứ gì bạn ăn trong ngày có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú.124

Tìm hiểu thêm bài viết: Hạt lanh: Thành phần dinh dưỡng và những lợi ích đối với sức khỏe

Còn với những phụ nữ đã bị ung thư vú rồi thì sao? Nếu họ có hàm lượng lignan trong máu125,126 và trong chế độ ăn127 cao hơn thì sẽ sống lâu hơn. Lý do có thể là vì phụ nữ ăn hạt lanh cũng tăng hàm lượng endostatin trong vú.128  (Endostatin là một loại protein do cơ thể  sản xuất ra để giúp ngăn chặn nguồn cung cấp máu cho khối u).

Bằng chứng từ những nghiên cứu như vậy dường như khá thuyết phục nên các nhà khoa học đã thực hiện một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược đối với bệnh nhân ung thư vú – rất ít khi thực phẩm được thử nghiệm khắt khe như vậy.

Các nhà nghiên cứu xác định những phụ nữ bị ung thư vú cần được phẫu thuật và chia ngẫu nhiên thành hai nhóm: Hàng ngày, nhóm thứ nhất ăn bánh nướng chứa hạt lanh, nhóm thứ hai ăn bánh nướng có cấu tạo và mùi vị tương tự, nhưng không có hạt lanh. Sinh thiết các khối u ở cả hai nhóm được lấy  lúc bắt đầu nghiên cứu và sau đó được đem ra so sánh với bệnh lý khối u được loại bỏ trong quá trình phẫu thuật khoảng 5 tuần sau đó.

Có sự khác biệt nào không? So với nhóm ăn bánh nướng giả dược thì nhóm ăn bánh nướng với hạt lanh, trung bình đã hạn chế được sự tăng sinh tế bào khối u, tiêu diệt được nhiều tế bào ung thư hơn, và mức c-erB2 cũng giảm.

C-erB2 là dấu hiệu thể hiện mức độ tấn công mạnh mẽ của ung thư; C-erB2 càng lớn thì khả năng ung thư vú di căn và lan rộng khắp cơ thể càng cao. Nói cách khác, hạt lanh sẽ khiến bệnh ung thư thuyên giảm. Các nhà nghiên cứu kết luận, “hạt lanh ăn có khả năng làm giảm sự tăng trưởng của khối u ở bệnh nhân ung thư vú…. Hạt lanh, vừa rẻ vừa dễ kiếm, là lựa chọn dinh dưỡng thay thế có giá trị hoặc có thể sử dụng kết hợp với thuốc chống ung thư vú.”129

Đậu nành giúp giảm nguy cơ ung thư vú

Đậu nành tự nhiên chứa một loại hợp chất thực vật (phytoestrogen) khác gọi là isoflavone. Mọi người thấy từ “estrogen” trong từ “phytoestrogen” và cho rằng đậu nành có tác dụng giống estrogen. Nhưng không hẳn như vậy. Phytoestrogen gắn vào cùng thụ thể như estrogen nhưng có tác dụng yếu hơn, do đó, chúng có thể ngăn chặn ảnh hưởng của estrogen động vật mạnh hơn trong bạn.

Có hai loại thụ thể estrogen trong cơ thể, alpha và beta. Estrogen ở người ưa thụ thể alpha hơn, trong khi  estrogen thực vật (phytoestrogen) lại ưa thụ thể beta hơn.130 Do đó, ảnh hưởng của phytoestrogen đậu nành đến các mô phụ thuộc vào tỉ lệ các thụ thể alpha so với beta.131

Estrogen vừa có tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với các mô. Ví dụ, hàm lượng estrogen cao có thể tốt cho xương nhưng lại làm tăng khả năng phát triển ung thư vú. Lý tưởng nhất là bạn muốn những gì được gọi là “máy điều biến thụ thể estrogen chọn lọc” trong cơ thể, tạo hiệu ứng proestrogen trong một số mô và hiệu ứng antiestrogenic (kháng estrogen) ở những mô khác.

Đó là về phytoestrogen trong đậu nành.132 Đậu nành có thể làm giảm nguy cơ ung thư133 – hiệu ứng antiestrogenic, nhưng cũng có thể giúp làm giảm các triệu chứng nóng trong người thời kì mãn kinh134 – hiệu ứng proestrogen. Như vậy, bằng cách ăn đậu nành, bạn có thể hưởng trọn cả hai lợi ích.

Còn đậu nành đối với phụ nữ bị ung thư vú? Đã có năm nghiên cứu về những người sống sót sau ung thư vú và việc tiêu thụ đậu nành. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những phụ nữ được chẩn đoán bị ung thư vú, nếu ăn nhiều đậu nành sẽ sống lâu hơn và có nguy cơ tái phát ung thư vú thấp hơn đáng kể so với những người ăn ít đậu nành.135

Tìm hiểu thêm bài viết: Đậu nành: Thành phần dinh dưỡng và những lợi ích đối với sức khỏe

Lượng phytoestrogen có trong một cốc sữa đậu nành136 làm giảm 25% nguy cơ tái phát ung thư vú.137 Sự cải thiện tỉ lệ sống sót đối với những người ăn nhiều thực phẩm từ đậu nành đã được nhận thấy ở phụ nữ có khối u dễ nhạy cảm với estrogen (ung thư vú thụ thể estrogen dương tính) và những người có khối u không dễ nhạy cảm với estrogen (ung thư vú thụ thể estrogen âm tính).

Điều này cũng đúng đối với cả phụ nữ trẻ và phụ nữ lớn tuổi.138 Ví dụ, trong một nghiên cứu, 90% bệnh nhân ung thư vú tiêu thụ phytoestrogen từ đậu nành sau khi được chẩn đoán bệnh vẫn sống được 5 năm sau đó, trong khi đó, có một nửa trong số những người ăn ít hoặc không ăn đậu nành đã chết.139

Đậu nành có thể làm giảm nguy cơ ung thư và cải thiện cơ hội sống bằng cách tái kích hoạt các gen BRCA.140 BRCA1 và BRCA2 được gọi là gen “chăm sóc”, là những gen ức chế ung thư có trách nhiệm khắc phục DNA. Đột biến trong gen này có thể gây ra một dạng ung thư vú di truyền hiếm gặp. Như mọi người đã biết, Angelina Jolie đã quyết định trải qua phẫu thuật cắt bỏ ngực ngừa ung thư. Một cuộc khảo sát từ Liên Hiệp Ung Thư Vú Quốc Gia cho thấy đa số phụ nữ cho rằng hầu hết các bệnh ung thư vú xảy ra ở những phụ nữ có tiền sử gia đình mắc bệnh hoặc có khuynh hướng di truyền bệnh.141 Thực tế là chỉ có khoảng 2,5% trường hợp ung thư vú là do tiểu sử gia đình.142

Nếu phần lớn bệnh nhân ung thư vú có gen BRCA hoạt động đầy đủ, nghĩa là cơ chế khắc phục DNA của chúng vẫn còn nguyên vẹn, thì ung thư vú đã hình thành, phát triển và lây lan bằng cách nào?

Các khối u vú dường như có thể ức chế biểu hiện của gen thông qua một quá trình gọi là methyl hóa. Trong khi gen đang hoạt động, ung thư đã loại bỏ nó một cách hiệu quả hoặc ít nhất cũng làm giảm biểu hiện của nó, khiến khối u di căn lan rộng.143 Đây chính là lúc cần đến đậu nành.

Các isoflavon trong đậu nành giúp kích hoạt tác dụng bảo vệ của BRCA trở lại, loại bỏ sự ràng buộc methyl của khối u.144  Tuy nhiên lượng isoflavon mà các nhà nghiên cứu ung thư vú sử dụng để đạt được kết quả này trong ống nghiệm là khá lớn – tương đương với khoảng một chén đậu nành.

Đậu nành cũng hữu ích với những phụ nữ có sự khác biệt về gen nhạy cảm với ung thư vú như MDM2 và CYP1B1. Vì vậy, phụ nữ có nguy cơ mắc ung thư vú do gen gia tăng nên tiêu thụ nhiều đậu nành.145 Điểm mấu chốt đó là dù bạn thừa hưởng gen nào thì sự thay đổi chế độ ăn cũng có thể ảnh hưởng đến biểu hiện DNA ở mức độ di truyền, và thúc đẩy khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể.

Trà xanh giúp giảm nguy cơ ung thư vú

Mặc dù ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất đối với phụ nữ trên toàn cầu, nhưng phụ nữ Châu Á lại có nguy cơ ung thư vú thấp hơn đến 5 lần so với phụ nữ Bắc Mỹ.146 Tại sao lại như vậy?

Khả năng là do họ uống trà xanh, một sản phẩm phổ biến trong chế độ dinh dưỡng của người Châu Á. Trà xanh có thể giúp giảm 30% nguy cơ ung thư vú.147 Ngoài ra còn có một khả năng mạnh khác là họ tiêu thụ nhiều đậu nành, nếu thường xuyên tiêu thụ đậu nành từ nhỏ có thể giảm một nửa nguy cơ mắc ung thư vú sau này. Tuy nhiên, nếu phụ nữ khi đã trưởng thành mà ăn chủ yếu là đậu nành thì chỉ giảm được 25% nguy cơ.148

Mặc dù tiêu thụ trà xanh và đậu nành có thể làm giảm gấp đôi nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ Châu Á, song nó không thể hiện đầy đủ sự chênh lệch giữa tỉ lệ ung thư vú ở phương Đông và phương Tây.

Những người châu Á cũng ăn nhiều nấm hơn.149 Nấm trắng cũng đã được chứng minh là ngăn chặn enzyme tổng hợp estrogen, ít nhất là khi thí nghiệm trong đĩa petri. Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã quyết định tìm hiểu mối liên hệ giữa việc tiêu thụ nấm và ung thư vú.

Họ đã so sánh mức tiêu thụ nấm của 1000 bệnh nhân ung thư vú với 1000 người khỏe mạnh ở cùng độ tuổi, cân nặng, cùng tình trạng hút thuốc và tập luyện. Những phụ nữ tiêu thụ trung bình ít nhất khoảng một nửa cây nấm mỗi ngày có tỉ lệ ung thư vú thấp hơn 64% so với những phụ nữ không ăn nấm. Ăn nấm và nhâm nhi ít nhất nửa gói trà xanh mỗi ngày làm khiến tỉ lệ ung thư vú thấp hơn gần 90%.150

Các bác sĩ chuyên khoa ung thư, chịu trách nhiệm điều trị bệnh ung thư, có thể tự hào về những bước tiến mà họ đã đạt được. Nhờ những cải thiện trong điều trị ung thư, bệnh nhân mắc ung thư đã có thể sống lâu hơn và khỏe mạnh hơn, như đã được vinh danh trên ấn bản tạp chí về ung thư với nhan đề như “Những kẻ sống sót trở về sau điều trị ung thư, 10 triệu con người vẫn đang khỏe mạnh và phát triển!”

Đúng vậy, có hơn 10 triệu bệnh nhân ung thư hiện vẫn còn sống, cùng với “có lẽ khoảng 1 triệu người ở Hoa Kỳ mới gia nhập hàng ngũ này mỗi năm”.151 Đó là cả một thành tựu, nhưng không phải sẽ còn rực rỡ hơn nếu ngăn chặn sớm được triệu trường hợp này hay sao?

Trong y học, giai đoạn chẩn đoán ung thư được coi là “thời điểm có thể truyền đạt hiệu quả” vì khi đó chúng ta có thể giúp bệnh nhân có động lực cải thiện lối sống của mình.152 Tuy nhiên, thực ra có lẽ đã quá muộn!

SỰ THẬT GÂY SỐC: TIỀN MUA SỮA CHÍNH LÀ TIỀN TIÊU HOANG

Michael Greger, M.D.,

Hãy cho chúng tôi biết suy nghĩ của bạn về bài viết này thông qua việc để lại comment ở dưới đây. Nếu bạn thấy bài viết hữu ích hãy like và share ngay nhé.

Danh mục tài liệu tham khảo từ các công trình nghiên cứu, bằng chứng khoa học:

1. American Cancer Society. Breast Cancer Facts & Figures 2013–2014. http://www.cancer.org/acs/groups/content/@research/documents/document/acspc-042725.pdf. 2013. Accessed March 10, 2015.

2. Sanders ME, Schuyler PA, Dupont WD, Page DL. The natural history of low-grade ductal carcinoma in situ of the breast in women treated by biopsy only revealed over 30 years of long-term follow-up. Cancer. 2005;103(12):2481–4.

3. Nielsen M, Thomsen JL, Primdahl S, Dyreborg U, Andersen JA. Breast cancer and atypia among young and middle-aged women: a study of 110 medicolegal autopsies. Br J Cancer. 1987;56(6):814–9.

4. Soto AM, Brisken C, Schaeberle C, Sonnenschein C. Does cancer start in the womb? Altered mammary gland development and predisposition to breast cancer due to in utero exposure to endocrine disruptors. J Mammary Gland Biol Neoplasia. 2013;18(2):199–208.

5. Del Monte U. Does the cell number 10(9) still really fit one gram of tumor tissue? Cell Cycle. 2009;8(3):505–6.

6. Black WC, Welch HG. Advances in diagnostic imaging and overestimations of disease prevalence and the benefits of therapy. N Engl J Med. 1993;328(17):1237–43.

7. Friberg S, Mattson S. On the growth rates of human malignant tumors: implications for medical decision making. J Surg Oncol. 1997;65(4):284–97.

8. Philippe E, Le Gal Y. Growth of seventy-eight recurrent mammary cancers. Quantitative study. Cancer. 1968;21(3):461–7.

9. Kuroishi T, Tominaga S, Morimoto T, et al. Tumor growth rate and prognosis of breast cancer mainly detected by mass screening. Jpn J Cancer Res. 1990;81(5):454–62.

10. American Association for Cancer Research. Studies weigh cost, effectiveness of mammography. Cancer Discov. 2014;4(5):OF5.

11. Nielsen M, Thomsen JL, Primdahl S, Dyreborg U, Andersen JA. Breast cancer and atypia among young and middle-aged women: a study of 110 medicolegal autopsies. Br J Cancer. 1987;56(6):814–9.

12. American Institute for Cancer Research. Recommendations for Cancer Prevention. http://www.aicr.org/reduce-your-cancer-risk/recommendations-for-cancer-prevention/. September 12, 2014. Accessed March 10, 2015.

13. American Institute for Cancer Research. AICR, the China Study, and Forks Over Knives. http://www.aicr.org/about/advocacy/the-china-study.html. January 9, 2015. Accessed March 10, 2015.

14. Hastert TA, Beresford SAA, Patterson RE, Kristal AR, White E. Adherence to WCRF/AICR cancer prevention recommendations and risk of postmenopausal breast cancer. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev. 2013;22(9):1498–508.

15. Barnard RJ, Gonzalez JH, Liva ME, Ngo TH. Effects of a low-fat, high-fiber diet and exercise program on breast cancer risk factors in vivo and tumor cell growth and apoptosis in vitro. Nutr Cancer. 2006;55(1):28–34.

16. Ngo TH, Barnard RJ, Tymchuk CN, Cohen P, Aronson WJ. Effect of diet and exercise on serum insulin, IGF-I, and IGFBP-1 levels and growth of LNCaP cells in vitro (United States). Cancer Causes Control. 2002;13(10):929–35.

17. Allen NE, Appleby PN, Davey GK, Kaaks R, Rinaldi S, Key TJ. The associations of diet with serum insulin-like growth factor I and its main binding proteins in 292 women meat-eaters, vegetarians, and vegans. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev. 2002;11(11):1441–8.

18. IARC. IARC Monographs on the Evaluation of Carcinogenic Risks to Humans, Vol 96, Alcohol Consumption and Ethyl Carbamate. Lyon, France: International Agency for Research on Cancer; 2010.

19. Stewart BW, Wild CP, eds. World Cancer Report 2014. Lyon, France: International Agency for Research on Cancer; 2014.

20. Bagnardi V, Rota M, Botteri E, et al. Light alcohol drinking and cancer: a meta-analysis. Ann Oncol. 2013;24(2):301–8.

21. Linderborg K, Salaspuro M, Väkeväinen S. A single sip of a strong alcoholic beverage causes exposure to carcinogenic concentrations of acetaldehyde in the oral cavity. Food Chem Toxicol. 2011;49(9):2103–6.

22. Lachenmeier DW, Gumbel-Mako S, Sohnius EM, Keck-Wilhelm A, Kratz E, Mildau G. Salivary acetaldehyde increase due to alcohol-containing mouthwash use: a risk factor for oral cancer. Int J Cancer. 2009;125(3):730–5.

23. Chen WY, Rosner B, Hankinson SE, Colditz GA, Willett WC. Moderate alcohol consumption during adult life, drinking patterns, and breast cancer risk. JAMA. 2011;306(17):1884–90.

24. Shufelt C, Merz CN, Yang Y, et al. Red versus white wine as a nutritional aromatase inhibitor in premenopausal women: a pilot study. J Womens Health (Larchmt). 2012;21(3):281–4.

25. Eng ET, Williams D, Mandava U, Kirma N, Tekmal RR, Chen S. Anti-aromatase chemicals in red wine. Ann N Y Acad Sci. 2002;963:239–46.

26. Shufelt C, Merz CN, Yang Y, et al. Red versus white wine as a nutritional aromatase inhibitor in premenopausal women: a pilot study. J Womens Health (Larchmt). 2012;21(3):281–4.

27. Chen S, Sun XZ, Kao YC, Kwon A, Zhou D, Eng E. Suppression of breast cancer cell growth with grape juice. Pharmaceutical Biology. 1998;36(Suppl 1):53–61.

28. Chen S, Sun XZ, Kao YC, Kwon A, Zhou D, Eng E. Suppression of breast cancer cell growth with grape juice. Pharmaceutical Biology. 1998;36(Suppl 1):53–61.

29. Adams LS, Zhang Y, Seeram NP, Heber D, Chen S. Pomegranate ellagitannin-derived compounds exhibit anti-proliferative and anti-aromatase activity in breast cancer cells in vitro. Cancer Prev Res (Phila). 2010;3(1):108–13.

30. Chen S, Oh SR, Phung S, et al. Anti-aromatase activity of phytochemicals in white button mushrooms (Agaricus bisporus). Cancer Res. 2006;66(24):12026–34.

31. Mishal AA. Effects of different dress styles on vitamin D levels in healthy young Jordanian women. Osteoporos Int. 2001;12(11):931–5.

32. Cardinali DP, Pévet P. Basic aspects of melatonin action. Sleep Med Rev. 1998;2(3):175–90.

33. Blask DE, Dauchy RT, Sauer LA. Putting cancer to sleep at night: the neuroendocrine/circadian melatonin signal. Endocrine. 2005;27(2):179–88.

34. Flynn-Evans EE, Stevens RG, Tabandeh H, Schernhammer ES, Lockley SW. Total visual blindness is protective against breast cancer. Cancer Causes Control. 2009;20(9):1753–6.

35. He C, Anand ST, Ebell MH, Vena JE, Robb SW. Circadian disrupting exposures and breast cancer risk: a meta-analysis. Int Arch Occup Environ Health. 2015 Jul;88(5):533–47.

36. Hurley S, Goldberg D, Nelson D, et al. Light at night and breast cancer risk among California teachers. Epidemiology. 2014;25(5):697–706.

37. Bauer SE, Wagner SE, Burch J, Bayakly R, Vena JE. A case-referent study: light at night and breast cancer risk in Georgia. Int J Health Geogr. 2013;12:23.

38. Kloog I, Haim A, Stevens RG, Barchana M, Portnov BA. Light at night co-distributes with incident breast but not lung cancer in the female population of Israel. Chronobiol Int. 2008;25(1):65–81.

39. Li Q, Zheng T, Holford TR, Boyle P, Zhang Y, Dai M. Light at night and breast cancer risk: results from a population-based case-control study in Connecticut, USA. Cancer Causes Control. 2010;21(12):2281–5.

40. Basler M, Jetter A, Fink D, Seifert B, Kullak-Ublick GA, Trojan A. Urinary excretion of melatonin and association with breast cancer: meta-analysis and review of the literature. Breast Care (Basel). 2014;9(3):182–7.

41. Nagata C, Nagao Y, Shibuya C, Kashiki Y, Shimizu H. Association of vegetable intake with urinary 6-sulfatoxymelatonin level. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev. 2005;14(5):1333–5.

42. Schernhammer ES, Feskanich D, Niu C, Dopfel R, Holmes MD, Hankinson SE. Dietary correlates of urinary 6-sulfatoxymelatonin concentrations in the Nurses’ Health Study cohorts. Am J Clin Nutr. 2009;90(4):975–85.

43. Gonçalves AK, Dantas Florencio GL, Maisonnette de Atayde Silva MJ, Cobucci RN, Giraldo PC, Cote NM. Effects of physical activity on breast cancer prevention: a systematic review. J Phys Act Health. 2014;11(2):445–54.

44. Friedenreich CM, Woolcott CG, McTiernan A, et al. Alberta physical activity and breast cancer prevention trial: sex hormone changes in a year-long exercise intervention among postmenopausal women. J Clin Oncol. 2010;28(9):1458–66.

45. Kossman DA, Williams NI, Domchek SM, Kurzer MS, Stopfer JE, Schmitz KH. Exercise lowers estrogen and progesterone levels in premenopausal women at high risk of breast cancer. J Appl Physiol. 2011;111(6):1687–93.

46. Thune I, Furberg AS. Physical activity and cancer risk: dose-response and cancer, all sites and site-specific. Med Sci Sports Exerc. 2001;33(6 Suppl):S530–50.

47. Carpenter CL, Ross RK, Paganini-Hill A, Bernstein L. Lifetime exercise activity and breast cancer risk among post-menopausal women. Br J Cancer. 1999;80(11):1852–8.

48. Peters TM, Moore SC, Gierach GL, et al. Intensity and timing of physical activity in relation to postmenopausal breast cancer risk: the prospective NIH-AARP diet and health study. BMC Cancer. 2009;9:349.

49. Friedenreich CM, Cust AE. Physical activity and breast cancer risk: impact of timing, type and dose of activity and population subgroup effects. Br J Sports Med. 2008;42(8):636–47.

50. Hildebrand JS, Gapstur SM, Campbell PT, Gaudet MM, Patel AV. Recreational physical activity and leisure-time sitting in relation to postmenopausal breast cancer risk. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev. 2013;22(10):1906–12.

51. Widmark, EMP. Presence of cancer-producing substances in roasted food. Nature. 1939;143:984.

52. National Cancer Institute. Chemicals in Meat Cooked at High Temperatures and Cancer Risk. http://www.cancer.gov/cancertopics/factsheet/Risk/cooked-meats. Reviewed October 15, 2010. Accessed March 10, 2015.

53. Shaughnessy DT, Gangarosa LM, Schliebe B, et al. Inhibition of fried meat-induced colorectal DNA damage and altered systemic genotoxicity in humans by crucifera, chlorophyllin, and yogurt. PLoS ONE. 2011;6(4):e18707.

54. Zaidi R, Kumar S, Rawat PR. Rapid detection and quantification of dietary mutagens in food using mass spectrometry and ultra performance liquid chromatography. Food Chem. 2012;135(4):2897–903.

55. Thiébaud HP, Knize MG, Kuzmicky PA, Hsieh DP, Felton JS. Airborne mutagens produced by frying beef, pork and a soy-based food. Food Chem Toxicol. 1995;33(10):821–8.

56. Zheng W, Lee SA. Well-done meat intake, heterocyclic amine exposure, and cancer risk. Nutr Cancer. 2009;61(4):437–46.

57. Goldfinger SE. By the way, doctor. In your May issue you say that eating medium or well-done beef increases one’s risk for stomach cancer. But what about the dangers of eating rare beef?. Harv Health Lett. 1999;24(5):7.

58. Frandsen H, Frederiksen H, Alexander J. 2-Amino-1-methyl-6-(5-hydroxy-)phenylimidazo[4,5-b]pyridine (5-OH-PhIP), a biomarker for the genotoxic dose of the heterocyclic amine, 2-amino-1-methyl-6-phenylimidazo[4,5-b]pyridine (PhIP). Food Chem Toxicol. 2002;40(8):1125–30.

59. Frandsen H. Biomonitoring of urinary metabolites of 2-amino-1-methyl-6-phenylimidazo[4,5-b]pyridine (PhIP) following human consumption of cooked chicken. Food Chem Toxicol. 2008;46(9):3200–5.

60. Steck SE, Gaudet MM, Eng SM, et al. Cooked meat and risk of breast cancer—lifetime versus recent dietary intake. Epidemiology. 2007;18(3):373–82.

61. Zheng W, Gustafson DR, Sinha R, et al. Well-done meat intake and the risk of breast cancer. J Natl Cancer Inst. 1998;90(22):1724–9.

62. Rohrmann S, Lukas Jung SU, Linseisen J, Pfau W. Dietary intake of meat and meat-derived heterocyclic aromatic amines and their correlation with DNA adducts in female breast tissue. Mutagenesis. 2009;24(2):127–32.

63. Santella RM, Gammon M, Terry M, et al. DNA adducts, DNA repair genotype/phenotype and cancer risk. Mutat Res. 2005;592(1–2):29–35.

64. Lauber SN, Ali S, Gooderham NJ. The cooked food derived carcinogen 2-amino-1-methyl-6-phenylimidazo[4,5-b] pyridine is a potent oestrogen: a mechanistic basis for its tissue-specific carcinogenicity. Carcinogenesis. 2004;25(12):2509–17.

65. Debruin LS, Martos PA, Josephy PD. Detection of PhIP (2-amino-1-methyl-6-phenylimidazo[4,5-b]pyridine) in the milk of healthy women. Chem Res Toxicol. 2001;14(11):1523–8.

66. Lauber SN, Ali S, Gooderham NJ. The cooked food derived carcinogen 2-amino-1-methyl-6-phenylimidazo[4,5-b] pyridine is a potent oestrogen: a mechanistic basis for its tissue-specific carcinogenicity. Carcinogenesis. 2004;25(12):2509–17.

67. Debruin LS, Martos PA, Josephy PD. Detection of PhIP (2-amino-1-methyl-6-phenylimidazo[4,5-b]pyridine) in the milk of healthy women. Chem Res Toxicol. 2001;14(11):1523–8.

68. Bessette EE, Yasa I, Dunbar D, Wilkens LR, Le Marchand L, Turesky RJ. Biomonitoring of carcinogenic heterocyclic aromatic amines in hair: a validation study. Chem Res Toxicol. 2009;22(8):1454–63.

69. Grose KR, Grant JL, Bjeldanes LF, et al. Isolation of the carcinogen IQ from fried egg patties. J Agric Food Chem. 1986;34(2):201–2.

70. Holland RD, Gehring T, Taylor J, Lake BG, Gooderham NJ, Turesky RJ. Formation of a mutagenic heterocyclic aromatic amine from creatinine in urine of meat eaters and vegetarians. Chem Res Toxicol. 2005;18(3):579–90

71. Magagnotti C, Orsi F, Bagnati R, et al. Effect of diet on serum albumin and hemoglobin adducts of 2-amino-1-methyl-6-phenylimidazo[4,5-b]pyridine (PhIP) in humans. Int J Cancer. 2000;88(1):1–6.

72. Lauber SN, Gooderham NJ. The cooked meat-derived mammary carcinogen 2-amino-1-methyl-6-phenylimidazo[4,5-b]pyridine promotes invasive behaviour of breast cancer cells. Toxicology. 2011;279(1–3):139–45.

73. Lauber SN, Gooderham NJ. The cooked meat-derived mammary carcinogen 2-amino-1-methyl-6-phenylimidazo[4,5-b]pyridine promotes invasive behaviour of breast cancer cells. Toxicology. 2011;279(1–3):139–45.

74. Vergnaud AC, Romaguera D, Peeters PH, et al. Adherence to the World Cancer Research Fund/American Institute for Cancer Research guidelines and risk of death in Europe: results from the European Prospective Investigation into Nutrition and Cancer cohort study. Am J Clin Nutr. 2013;97(5):1107–20.

75. Danilo C, Frank PG. Cholesterol and breast cancer development. Current Opinion in Pharmacology. 2012;12(6):677.

76. Firestone RA. Low-density lipoprotein as a vehicle for targeting antitumor compounds to cancer cells. Bioconjug Chem. 1994 5(2):105–13.

77. Rudling MJ, Ståhle L, Peterson CO, Skoog L. Content of low density lipoprotein receptors in breast cancer tissue related to survival of patients. Br Med J (Clin Res Ed). 1986;292(6520):580–2.

78. Danilo C, Frank PG. Cholesterol and breast cancer development. Current Opinion in Pharmacology. 2012;12(6):677–82.

79. Antalis CJ, Arnold T, Rasool T, Lee B, Buhman KK, Siddiqui RA. High ACAT1 expression in estrogen receptor negative basal-like breast cancer cells is associated with LDL-induced proliferation. Breast Cancer Res Treat. 2010;122(3):661–70.

80. Firestone RA. Low-density lipoprotein as a vehicle for targeting antitumor compounds to cancer cells. Bioconjug Chem. 1994;5(2):105–13.

81. Kitahara CM, Berrington de González A, Freedman ND, et al. Total cholesterol and cancer risk in a large prospective study in Korea. J Clin Oncol. 2011;29(12):1592–8.

82. Undela K, Srikanth V, Bansal D. Statin use and risk of breast cancer: a meta-analysis of observational studies. Breast Cancer Res Treat. 2012;135(1):261–9.

83. McDougall JA, Malone KE, Daling JR, Cushing-Haugen KL, Porter PL, Li CI. Long-term statin use and risk of ductal and lobular breast cancer among women 55 to 74 years of age. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev. 2013;22(9):1529–37.

84. Centers for Disease Control and Prevention. Data table for Figure 17. Statin drug use in the past 30 days among adults 45 years of age and over, by sex and age: United States, 1988–1994, 1999–2002, and 2005–2008. National Health and Nutrition Examination Survey. Chartbook: Centers for Disease Control; 2010. http://www.cdc.gov/nchs/data/hus/2010/fig17.pdf. Accessed March 25, 2015.

85. Maunsell E, Drolet M, Brisson J, Robert J, Deschell L. Dietary change after breast cancer: extent, predictors, and relation with psychological distress. J Clin Oncol. 2002;20(4):1017–25.

86. Pierce JP, Stefanick ML, Flatt SW, et al. Greater survival after breast cancer in physically active women with high vegetable-fruit intake regardless of obesity. J Clin Oncol. 2007;25(17):2345–51.

87. Li Q, Holford TR, Zhang Y, et al. Dietary fiber intake and risk of breast cancer by menopausal and estrogen receptor status. Eur J Nutr. 2013;52(1):217–23.

88. Li Q, Holford TR, Zhang Y, et al. Dietary fiber intake and risk of breast cancer by menopausal and estrogen receptor status. Eur J Nutr. 2013;52(1):217–23.

89. Howe GR, Hirohata T, Hislop TG, et al. Dietary factors and risk of breast cancer: combined analysis of 12 case-control studies. J Natl Cancer Inst. 1990;82(7):561–9.

90. Dong J-Y, He K, Wang P, Qin LQ. Dietary fiber intake and risk of breast cancer: a meta-analysis of prospective cohort studies. Am J Clin Nutr. 2011;94(3):900–5.

91. Aune D, Chan DS, Greenwood DC, et al. Dietary fiber and breast cancer risk: a systematic review and meta-analysis of prospective studies. Ann Oncol. 2012;23(6):1394–402.

92. Clemens R, Kranz S, Mobley AR, et al. Filling America’s fiber intake gap: summary of a roundtable to probe realistic solutions with a focus on grain-based foods. J Nutr. 2012;142(7):1390S–401S.

93. Farmer B, Larson BT, Fulgoni VL, Rainville AJ, Liepa GU. A vegetarian dietary pattern as a nutrient-dense approach to weight management: an analysis of the National Health and Nutrition Examination Survey 1999–2004. J Am Diet Assoc. 2011;111(6):819–27.

94. Rizzo NS, Jaceldo-Siegl K, Sabate J, Fraser GE. Nutrient profiles of vegetarian and nonvegetarian dietary patterns. J Acad Nutr Diet. 2013;113(12):1610–9.

95. Dewell A, Weidner G, Sumner MD, Chi CS, Ornish D. A very-low-fat vegan diet increases intake of protective dietary factors and decreases intake of pathogenic dietary factors. J Am Diet Assoc. 2008;108(2):347–56.

96. Gallus S, Talamini R, Giacosa A, et al. Does an apple a day keep the oncologist away? Ann Oncol. 2005;16(11):1841–4.

97. Wolfe K, Wu X, Liu RH. Antioxidant activity of apple peels. J Agric Food Chem. 2003;51(3):609–14.

98. Sun J, Liu RH. Apple phytochemical extracts inhibit proliferation of estrogen-dependent and estrogen-independent human breast cancer cells through cell cycle modulation. J Agric Food Chem. 2008;56(24):11661–7.

99. Wolfe K, Wu X, Liu RH. Antioxidant activity of apple peels. J Agric Food Chem. 2003;51(3):609–14.

100. Reagan-Shaw S, Eggert D, Mukhtar H, Ahmad N. Antiproliferative effects of apple peel extract against cancer cells. Nutr Cancer. 2010;62(4):517–24.

101. Steck SE, Gaudet MM, Eng SM, et al. Cooked meat and risk of breast cancer—lifetime versus recent dietary intake. Epidemiology. 2007;18(3):373–82.

102. Murray S, Lake BG, Gray S, et al. Effect of cruciferous vegetable consumption on heterocyclic aromatic amine metabolism in man. Carcinogenesis. 2001;22(9):1413–20.

103. Murray S, Lake BG, Gray S, et al. Effect of cruciferous vegetable consumption on heterocyclic aromatic amine metabolism in man. Carcinogenesis. 2001;22(9):1413–20.

104. Murray S, Lake BG, Gray S, et al. Effect of cruciferous vegetable consumption on heterocyclic aromatic amine metabolism in man. Carcinogenesis. 2001;22(9):1413–20.

105. Thiébaud HP, Knize MG, Kuzmicky PA, Hsieh DP, Felton JS. Airborne mutagens produced by frying beef, pork and a soy-based food. Food Chem Toxicol. 1995;33(10):821–8.

106. Boggs DA, Palmer JR, Wise LA, et al. Fruit and vegetable intake in relation to risk of breast cancer in the Black Women’s Health Study. Am J Epidemiol. 2010;172(11):1268–79.

107. Boggs DA, Palmer JR, Wise LA, et al. Fruit and vegetable intake in relation to risk of breast cancer in the Black Women’s Health Study. Am J Epidemiol. 2010;172(11):1268–79.

108. Tiede B, Kang Y. From milk to malignancy: the role of mammary stem cells in development, pregnancy and breast cancer. Cell Res. 2011;21(2):245–57.

109. Clevers H. The cancer stem cell: premises, promises and challenges. Nat Med. 2011;17(3):313–9.

110. Karrison TG, Ferguson DJ, Meier P. Dormancy of mammary carcinoma after mastectomy. J Natl Cancer Inst. 1999;91(1):80–5.

111. Aguirre-Ghiso JA. Models, mechanisms and clinical evidence for cancer dormancy. Nat Rev Cancer. 2007;7(11):834–46.

112. Clevers H. The cancer stem cell: premises, promises and challenges. Nat Med. 2011;17(3):313–9.

113. Li Y, Zhang T, Korkaya H, et al. Sulforaphane, a dietary component of broccoli/broccoli sprouts, inhibits breast cancer stem cells. Clin Cancer Res. 2010;16(9):2580–90.

114. Cornblatt BS, Ye L, Dinkova-Kostova AT, et al. Preclinical and clinical evaluation of sulforaphane for chemoprevention in the breast. Carcinogenesis. 2007;28(7):1485–90.

115. Fahey JW, Zhang Y, Talalay P. Broccoli sprouts: an exceptionally rich source of inducers of enzymes that protect against chemical carcinogens. Proc Natl Acad Sci USA. 1997;94(19):10367–72.

116. Goyal A, Sharma V, Upadhyay N, Gill S, Sihag M. Flax and flaxseed oil: an ancient medicine & modern functional food. J Food Sci Technol. 2014;51(9):1633–53.

117. Smeds AI, Eklund PC, Sjöholm RE, et al. Quantification of a broad spectrum of lignans in cereals, oilseeds, and nuts. J Agric Food Chem. 2007;55(4):1337–46.

118. Rosolowich V, Saettler E, Szuck B, et al. Mastalgia. J Obstet Gynaecol Can. 2006;170:49–57.

119. Phipps WR, Martini MC, Lampe JW, Slavin JL, Kurzer MS. Effect of flax seed ingestion on the menstrual cycle. J Clin Endocrinol Metab. 1993;77(5):1215–9.

120. Kelsey JL, Gammon MD, John EM. Reproductive factors and breast cancer. Epidemiol Rev. 1993;15(1):36–47.

121. Knekt P, Adlercreutz H, Rissanen H, Aromaa A, Teppo L, Heliövaara M. Does antibacterial treatment for urinary tract infection contribute to the risk of breast cancer? Br J Cancer. 2000;82(5):1107–10.

122. Buck K, Zaineddin AK, Vrieling A, Linseisen J, Chang-Claude J. Meta-analyses of lignans and enterolignans in relation to breast cancer risk. Am J Clin Nutr. 2010;92(1):141–53.

123. Abarzua S, Serikawa T, Szewczyk M, Richter DU, Piechulla B, Briese V. Antiproliferative activity of lignans against the breast carcinoma cell lines MCF 7 and BT 20. Arch Gynecol Obstet. 2012;285(4):1145–51.

124. Fabian CJ, Kimler BF, Zalles CM, et al. Reduction in Ki-67 in benign breast tissue of high-risk women with the lignan secoisolariciresinol diglycoside. Cancer Prev Res (Phila). 2010;3(10):1342–50.

125. Buck K, Vrieling A, Zaineddin AK, et al. Serum enterolactone and prognosis of postmenopausal breast cancer. J Clin Oncol. 2011;29(28):3730–8.

126. Guglielmini P, Rubagotti A, Boccardo F. Serum enterolactone levels and mortality outcome in women with early breast cancer: a retrospective cohort study. Breast Cancer Res Treat. 2012;132(2):661–8.

127. McCann SE, Thompson LU, Nie J, et al. Dietary lignan intakes in relation to survival among women with breast cancer: the Western New York Exposures and Breast Cancer (WEB) Study. Breast Cancer Res Treat. 2010;122(1):229–35.

128. Åberg UW, Saarinen N, Abrahamsson A, Nurmi T, Engblom S, Dabrosin C. Tamoxifen and flaxseed alter angiogenesis regulators in normal human breast tissue in vivo. PLoS ONE. 2011;6(9):e25720.

129. Thompson LU, Chen JM, Li T, Strasser-Weippl K, Goss PE. Dietary flaxseed alters tumor biological markers in postmenopausal breast cancer. Clin Cancer Res. 2005;11(10):3828–35.

130. Mueller SO, Simon S, Chae K, Metzler M, Korach KS. Phytoestrogens and their human metabolites show distinct agonistic and antagonistic properties on estrogen receptor alpha (ERalpha) and ERbeta in human cells. Toxicol Sci. 2004;80(1):14–25.

131. Oseni T, Patel R, Pyle J, Jordan VC. Selective estrogen receptor modulators and phytoestrogens. Planta Med. 2008;74(13):1656–65.

132. Oseni T, Patel R, Pyle J, Jordan VC. Selective estrogen receptor modulators and phytoestrogens. Planta Med. 2008;74(13):1656–65.

133. Nagata C, Mizoue T, Tanaka K, et al. Soy intake and breast cancer risk: an evaluation based on a systematic review of epidemiologic evidence among the Japanese population. Jpn J Clin Oncol. 2014;44(3):282–95.

134. Chen MN, Lin CC, Liu CF. Efficacy of phytoestrogens for menopausal symptoms: a meta-analysis and systematic review. Climacteric. 2015;18(2):260–9.

135. Chi F, Wu R, Zeng YC, Xing R, Liu Y, Xu ZG. Post-diagnosis soy food intake and breast cancer survival: a meta-analysis of cohort studies. Asian Pac J Cancer Prev. 2013;14(4):2407–12.

136. Bhagwat S, Haytowitz DB, Holden JM. USDA Database for the Isoflavone Content of Selected Foods, Release 2.0. http://www.ars.usda.gov/SP2UserFiles/Place/12354500/Data/isoflav/Isoflav_R2.pdf. September 2008. Accessed March 26, 2015.

137. Nechuta SJ, Caan BJ, Chen WY, et al. Soy food intake after diagnosis of breast cancer and survival: an in-depth analysis of combined evidence from cohort studies of US and Chinese women. Am J Clin Nutr. 2012;96(1):123–32.

138. Chi F, Wu R, Zeng YC, Xing R, Liu Y, Xu ZG. Post-diagnosis soy food intake and breast cancer survival: a meta-analysis of cohort studies. Asian Pac J Cancer Prev. 2013;14(4):2407–12.

139. Kang HB, Zhang YF, Yang JD, Lu KL. Study on soy isoflavone consumption and risk of breast cancer and survival. Asian Pac J Cancer Prev. 2012;13(3):995–8.

140. Bosviel R, Dumollard E, Déchelotte P, Bignon YJ, Bernard-Gallon D. Can soy phytoestrogens decrease DNA methylation in BRCA1 and BRCA2 oncosuppressor genes in breast cancer? OMICS. 2012;16(5):235–44.

141. National Breast Cancer Coalition. National Breast Cancer Coalition survey reveals that heightened breast cancer awareness has insufficient impact on knowledge. http://www.prnewswire.com/news-releases/national-breast-cancer-coalition-survey-reveals-that-heightened-breast-cancer-awareness-has-insufficient-impact-on-knowledge-58248962.html. October 1, 2007. Accessed March 23, 2015.

142. Colditz GA, Willett WC, Hunter DJ, et al. Family history, age, and risk of breast cancer. Prospective data from the Nurses’ Health Study. JAMA. 1993;270(3):338–43.

143. Bal A, Verma S, Joshi K, et al. BRCA1-methylated sporadic breast cancers are BRCA-like in showing a basal phenotype and absence of ER expression. Virchows Arch. 2012;461(3):305–12.

144. Bosviel R, Dumollard E, Déchelotte P, Bignon YJ, Bernard-Gallon D. Can soy phytoestrogens decrease DNA methylation in BRCA1 and BRCA2 oncosuppressor genes in breast cancer? OMICS. 2012;16(5):235–44.

145. Magee PJ, Rowland I. Soy products in the management of breast cancer. Curr Opin Clin Nutr Metab Care. 2012;15(6):586–91.

146. Parkin DM, Fernández LM. Use of statistics to assess the global burden of breast cancer. Breast J. 2006;12 Suppl 1:S70–80.

147. Wu AH, Butler LM. Green tea and breast cancer. Mol Nutr Food Res. 2011;55(6):921–30.

148. Korde LA, Wu AH, Fears T, et al. Childhood soy intake and breast cancer risk in Asian American women. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev. 2009;18(4):1050–9.

149. Wakchaure GC. Chapter 3: Production and marketing of mushrooms: Global and national scenario. In: Mushrooms: Singh N, Cijay B, Kamal S, Wakchaure GC, eds. Cultivation, Marketing and Consumption. Himachal Pradesh-173213, India: Directorate of Mushroom Research; 2014:15–22.

150. Zhang M, Huang J, Xie X, Holman CD. Dietary intakes of mushrooms and green tea combine to reduce the risk of breast cancer in Chinese women. Int J Cancer. 2009;124(6):1404–8.

151. Ganz PA. A teachable moment for oncologists: cancer survivors, 10 million strong and growing! J Clin Oncol. 2005;23(24):5458–60.

152. Ganz PA. A teachable moment for oncologists: cancer survivors, 10 million strong and growing! J Clin Oncol. 2005;23(24):5458–60.