Đậu Nành: Thành Phần Dinh Dưỡng Và Các Tác Động Đến Sức Khỏe

Đậu Nành: Thành Phần Dinh Dưỡng Và Các Tác Động Đến Sức Khỏe
4.86 (97.14%) 7 votes

Đậu Nành: Thành Phần Dinh Dưỡng Và Các Tác Động Đến Sức Khỏe

Caroty.com trân trọng gửi đến bạn bài viết: Đậu Nành: Thành Phần Dinh Dưỡng Và Các Tác Động Đến Sức Khỏe

Đậu nành hay đậu tương (glycine max) là một giống họ đậu, có nguồn gốc ở Đông Á.

Chúng là một nguyên liệu quan trọng trong các bữa ăn của người châu Á và được tiêu thụ suốt hàng nghìn năm qua. Ngày nay, chúng được trồng phổ biến ở châu Á, phía Nam và phía Bắc châu Mỹ.

Ở châu Á, đậu nành thường được ăn nguyên hạt, nhưng ở các nước phương Tây, phổ biến hơn cả là các sản phẩm đã qua chế biến có nguồn gốc từ đậu nành.

Hiện có rất nhiều sản phẩm từ đậu nành,, bao gồm bột đậu nành, protein đậu nành (soy protein), tào phớ, sữa đậu nành, sốt đậu nành và dầu đậu nành.

Đậu nành chứa các chất chống oxy hóa và các chất dinh dưỡng từ thực vật – những chất có lợi cho sức khỏe, trong khi đó, nhiều người lại quan ngại về tác dụng trái ngược của nó.

Giá trị dinh dưỡng

Không chỉ có nước, đậu nành chủ yếu còn chứa protein, đồng thời chứa một lượng vừa phải carb và chất béo.

Bảng dưới đây có cung cấp một số thông tin về những chất dinh dưỡng cơ bản có trong đậu nành.

Protein đậu nành (Soy protein)

Đậu nành là một trong những nguồn cung cấp protein có nguồn gốc thực vật tuyệt vời nhất.

Hàm lượng protein của đậu nành chiếm từ 36 đến 56% trọng lượng khô (123).

Một cốc đậu nành đã luộc chín (172 g) chứa khoảng 29 gram protein (4).

Protein đậu nành có giá trị dinh dưỡng rất tốt, mặc dù chất lượng của chúng không cao bằng protein từ động vật (5).

Loại protein chính có trong đậu nành là glycinin và conglycinin. Hai chất này chiếm khoảng 80% hàm lượng protein có trong đậu nành (3). Hai loại protein này có thế gây dị ứng ở một vài người (6).

Tiêu thụ protein đậu nành có thể dẫn đến giảm nhẹ nồng độ cholesterol (789).

Đậu nành còn chứa protein có hoạt tính sinh học, như lectin và lunasin – những chất có đặc tính chống ung thư (10).

Điểm mấu chốt: Đậu nành là nguồn cung cấp dồi dào protein có nguồn gốc thực vật, khiến đậu nành trở thành loại thực phẩm lý tưởng cho người ăn chay.

Chất béo

Đậu nành rất giàu chất béo.

Trên thực tế, đậu nành được xếp vào loại hạt có dầu, và thường được sử dụng để làm dầu đậu nành.

Hàm lượng chất béo là khoảng 18% trọng lượng khô, hầu hết là loại axit béo đa chưa bão hòa và đơn chưa bão hòa, và một lượng nhỏ chất béo bão hòa (11).

Loại chất béo chủ yếu trong đậu nành là axit linoleic, chiếm khoảng 50% tổng hàm lượng chất béo.

Điểm mấu chốt: Là một nguồn cung chất béo dồi dào, đậu nành được sử dụng rộng rãi trong sản xuất dầu đậu nành.

Carb

Bởi ít carb nên đậu nành nguyên hạt có chỉ số glycemic rất thấp (12). Chỉ số glycemic là thước đo sự tác động của thực phẩm lên độ tăng đường huyết sau bữa ăn.

Chỉ số glycemic thấp khiến đậu nành là lựa chọn hoàn hảo cho người bị tiểu đường.

Chất xơ

Đậu nành chứa một lượng vừa phải chất xơ hòa tan và không hòa tan.

Chất xơ không hòa tan thường là loại alpha-galactosides, như stachyose và raffinose. Những loại chất xơ này có thể gây đầy hơi và tiêu chảy ở những người mẫn cảm (1314).

Alpha-galactosides thuộc loại chất xơ có tên gọi FODMAPs (từ viết tắt cho một tập hợp các phân tử thức ăn (Fermentable, Oligosaccharides, Disaccharides, Monosaccharide, Polyol), tất cả đều là những dạng lên men carbohydrate chuỗi ngắn lên men và hấp thụ kém trong ruột ), và chúng có thể làm các triệu chứng của bệnh ruột kích thích (IBS) thêm trầm trọng (15).

Mặc dù gây tác dụng phụ khiến nhiều người khó chịu, nhưng chất xơ hòa tan trong đậu nành được coi là chất có lợi cho sức khỏe.

Chất này được lên men bởi vi khuẩn trong ruột, dẫn dến sự hình thành các axit béo chuỗi ngắn, như butyrate – một chất có thể cải thiện hoạt động của ruột và giảm thiểu nguy cơ mắc ung thư ruột (1617).

Điểm mấu chốt: Đậu nành có ít carb, nhưng có khá nhiều chất xơ. Chất xơ này có lợi cho sức khỏe đường ruột, nhưng có thể gây một vài vấn đề về tiêu hóa ở một số người.

Vitamin và khoáng chất

Đậu nành là nguồn cung cấp tuyệt vời với nhiều loại vitamin và khoáng chất.

  • Molybdenum: Đậu nành rất giàu molybdenum, một yếu tố vi lượng thiết yếu, được tìm thấy chủ yếu ở các loại hạt, ngũ cốc và các loại đậu (18).
  • Vitamin K1:  Dạng vitamin K được tìm thấy trong họ nhà đậu là phylloquinone. Loại vitamin này đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc làm đông máu (19).
  • Folate: Một trong số những loại vitamin B, còn được biết đến với tên gọi là vitamin B9 hoặc axit folic. Nó có nhiều chức năng khác nhau trong cơ thể và là một chất quan trọng trong quá trình mang thai (20).
  • Đồng: Với người phương Tây, lượng đồng được nạp vào cơ thể qua các bữa ăn thường rất thấp. Thiếu đồng có thể tạo tác động trái ngược đến sức khỏe tim mạch (21).
  • Mangan: Một yếu tố vi lượng có chủ yếu trong hầu hết các loại thực phẩm và nước uống. Cơ thể người thường không hấp thụ được nhiều mangan từ đậu nành bởi chúng có chứa hàm lượng cao axit phytic (22).
  • Phốt pho: Đậu nành là nguồn cung cấp dồi dào phốt pho, một chất khoáng thiết yếu và xuất hiện nhiều trong chế độ ăn ở phương Tây.
  • Thiamin: Còn được biết đến là vitamin B1, thiamin đóng vai trò quan trọng trong nhiều chức năng của cơ thể.

Điểm mấu chốt: Đậu nành là nguồn dinh dưỡng tuyệt vời với nhiều loại vitamin và khoáng chất, bao gồm vitamin K1, folate, đồng, mangan, phốt pho và thiamin.

Các hợp chất nguồn gốc thực vật khác

Đậu nành chứa hàm lượng cao nhiều loại hợp chất có nguồn gốc thực vật khác nhau..

  • Isoflavones: Một tập hợp các polyphenol chống oxy hóa với nhiều lợi ích cho sức khỏe. Thường được gọi là phytoestrogens (23).
  • Axit phytic: Được tìm thấy trong tất cả các loại hạt cây trồng, axit phytic hay phytate có thể làm giảm khả năng hấp thu các chất khoáng như kẽm hay sắt. Có thể làm giảm lượng chất này bằng cách đun sôi, làm nảy mầm hoặc lên men hạt đậu nành (24).
  • Saponins: Một trong các loại hợp chất thực vật chính có trong đậu nành (25). Saponins đậu nành được cho là có khả năng làm giảm cholesterol ở động vật  (26).

Điểm mấu chốt: Đậu nành chứa rất nhiều hợp chất thực vật có hoạt tính sinh học, bao gồm isoflavones, saponins và axit phytic.

Isoflavones

Trong số tất cả các chất dinh dưỡng thực vật có trong đậu nành thì chúng ta không thể bỏ qua isoflavones.

Đậu nành chứa hàm lượng cao isoflavones hơn hẳn các loại thực phẩm thông thường khác (27).

Isoflavones là một loại dinh dưỡng thực vật độc đáo, khi nó giống với hoocmôn giới tính nữ – estrogen. Trên thực tế, isoflavones thuộc về loại chất có tên gọi phytoestrogens hay còn được biết đến là estrogens thực vật.

Những loại isoflavones chính trong đậu nành là genistein (50%), daidzein (40%) và glycitein (10%) (23).

Một vài người sở hữu một loại khuẩn đường ruột đặc biệt có khả năng biến đổi daidzein thành equol – một chất chịu trách nhiệm về nhiều lợi ích mà đậu nành có thể mang lại cho sức khỏe.

Những người được gọi là “nhà sản xuất equol” được cho rằng sẽ được “hưởng lợi” nhiều từ đậu nành hơn những người không tạo ra được equol (28).

Tỉ lệ những người “sản xuất equol” thường cao ở Châu Á và những người ăn chay hơn là người phương Tây (2930).

Điểm mấu chốt: Isoflavones là một trong số các hợp chất thực vật chính có trong đậu nành, chịu trách nhiệm về nhiều lợi ích mà đậu nành có thể đem lại cho sức khỏe.

Lợi ích của đậu nành

Như hầu hết các loại thực phẩm toàn phần (thô, nguyên) khác, đậu nành có một số tác động tích cực đến sức khỏe.

Ngăn ngừa ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt

Ung thư là một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến tử vong ở xã hội hiện đại ngày nay.

Sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc đậu nành có thể dẫn đến tăng các mô vú ở phụ nữ (313233), theo giả thuyết thì đồng thời cũng làm tăng nguy cơ ung thư vú.

Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu quan sát đã chỉ ra rằng, tiêu thụ các sản phẩm từ đậu nành có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú (3435).

Các nghiên cứu còn cho thấy tác dụng của đậu nành giúp bảo vệ cơ thể khỏi ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới (363738).

Một số thành phần có trong đậu nành chịu trách nhiệm cho tác dụng ngăn ngừa ung thư. Những thành phần đó bao gồm isoflavones, lectin và lunasin (3940).

Tiếp xúc sớm với isoflavones từ giai đoạn đầu đời có thể tạo tác động bảo vệ cơ thể khỏi ung thư trong những giai đoạn về sau của cuộc đời (4142).

Hãy luôn nhớ rằng, tất các các nghiên cứu thực hiện trên con người ở mảng này đều là các nghiên cứu quan sát. Chúng chỉ ra mối liên quan giữa việc tiêu thụ đậu nành và ung thư, chứ không chứng minh được quan hệ nhân quả giữa hai điều này.

Điểm mấu chốt: Đậu nành có chứa một số hợp chất thực vật có thể giúp ngăn ngừa ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt.

Giảm các triệu chứng mãn kinh

Mãn kinh là thời kì mà mọi phụ nữ đều phải trải qua khi kinh nguyệt dừng hẳn.

Thời kỳ này thường đi kèm với một số triệu chứng khó chịu, như đổ mồ hôi, người nóng bừng, thay đổi tâm trạng – tình trạng xảy ra khi lượng estrogen giảm.

Thú vị là, phụ nữ châu Á, đặc biệt là phụ nữ Nhật, thường ít phải trải qua các triệu chứng này hơn phụ nữ phương Tây.

Thói quen ăn uống, như việc người châu Á tiêu thụ nhiều đậu nành hơn có thể lý giải được điều này.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, isoflavones, một tập hợp của phytoestrogens có trong đậu nành, có thể làm giảm các triệu chứng thời kỳ mãn kinh (4344).

Các sản phẩm từ đậu nành không tác động đến tất cả phụ nữ theo cách này. Đậu nành có vẻ như chỉ có các dụng với những người phụ nữ mà cơ thể có thể sản sinh equol, hay còn gọi là “nhà sản xuất equol” – những người phụ nữ sở hữu loại vi khuẩn đường ruột có khả năng chuyển hóa isoflavones thành equol.

Equol được cho rằng có liên quan đến rất nhiều lợi ích sức khỏe của việc tiêu thụ đậu nành.

Nạp vào cơ thể 135mg isoflavones hàng ngày trong một tuần, tương đương 68g đậu nành mỗi ngày, đã làm giảm triệu chứng mãn kinh ở những người tạo ra được equol (45).

Trước đây, người ta sử dụng các liệu pháp nội tiết tố để điều trị các triệu chứng mãn kinh. Ngày nay, bổ sung isoflavone là cách làm thay thế phổ biến để điều trị tình trạng này (46).

Điểm mấu chốt: Ăn nhiều đậu nành có thể giúp làm giảm các triệu chứng thời kỳ mãn kinh.

Sức khỏe của xương

Loãng xương là một chứng bệnh đặc trưng bởi việc giảm mật độ xương và làm tăng nguy cơ gãy xương, đặc biệt là ở phụ nữ cao tuổi.

Ăn/uống nhiều sản phẩm từ đậu nành có thể làm giảm nguy cơ loãng xương ở những ngườiphụ nữ đã trải qua thời kỳ mãn kinh (4748).

Những lợi ích này được cho là có sự đóng góp không nhỏ của isoflavones (49505152).

Điểm mấu chốt: Đậu nành có thể làm giảm nguy cơ loãng xương ở những người phụ nữ sau mãn kinh.

Tác hại và những mối lo ngại

Mặc dù có nhiều lợi ích đối với sức khỏe, nhưng nhiều người cần phải giới hạn việc sử dụng các sản phẩm từ đậu nành, thậm chí phải tránh xa chúng.

Ức chế chức năng tuyến giáp

Có một số lo ngại về việc tiêu thụ quá nhiều sản phẩm từ đậu nành có thể làm ức chế chức năng tuyến giáp và dẫn đến suy giáp ở một vài người (53).

Tuyến giáp là một tuyến lớn giúp điều chỉnh sự tăng trưởng và kiểm soát tốc độ mà cơ thể giải phóng năng lượng.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, isoflavones – một chất có trong đậu nành, có thể gây suy giảm sự hình thành các hoocmôn tuyến giáp ở cả động vật và người (5455).

Một thử nghiệm tại Nhật thực hiện với 37 người lớn đã báo cáo về một vài triệu chứng liên quan đến suy giảm chức năng tuyến giáp sau khi ăn 30 gram đậu nành mỗi ngày trong vòng 3 tháng.

Các triệu chứng bao gồm khó chịu, buồn ngủ, táo bón và mở rộng tuyến giáp, và tất cả những triệu chứng này biến mất sau khi thử nghiệm kết thúc (56).

Ở một nghiên cứu khác, bổ sung isoflavones (16mg) mỗi ngày trong vòng 2 tháng đã làm giảm chức năng tuyến giáp ở 10% số người trưởng thành với tình trạng suy giáp nhẹ.

Lượng isoflavones tiêu thụ ở trên là khá nhỏ, tương đương với 8 gram đậu nành mỗi ngày (5557).

Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu ở những người trưởng thành khỏe mạnh đều không khẳng định được mối quan hệ giữa việc tiêu thụ đậu nành với sự thay đổi chức năng tuyến giáp một cách chắc chắn (585960).

Một nghiên cứu tổng hợp từ 14 nghiên cứu đã không cho thấy được tác dụng phụ đáng kể nào của việc tiêu thụ đậu nành lên chức năng tuyến giáp ở những người khỏe mạnh, trong khi đó việc này lại gây nguy hiểm với trẻ sơ sinh gặp tình trạng thiếu hoocmôn tuyến giáp (suy giáp bẩm sinh) (58).

Tóm lại, việc tiêu thụ thường xuyên các sản phẩm từ đậu nành hay các sản phẩm bổ sung isoflavones có thể dẫn đến tình trạng suy giáp ở những người mẫn cảm, đặc biệt là những người có tình trạng tuyến giáp kém.

Điểm mấu chốt: Sản phẩm từ đậu nành có thể làm suy giảm chức năng tuyến giáp ở những người dễ mắc chứng bệnh này.

Đầy hơi và tiêu chảy

Như hầu hết các loại đậu, đậu nành có chứa các chất xơ không hòa tan, chủ yếu là rafinose và stachyose, những chất có thể gây đầy hơi và tiêu chảy ở một số người mẫn cảm (1314).

Mặc dù không phải là triệu chứng có hại, nhưng tác dụng phụ này có thể gây khó chịu sau khi sử dụng các sản phẩm từ đậu nành.

Thuộc nhóm chất xơ có tên FODMAPs, raffinose và stachyose có thể làm các triệu chứng của bệnh ruột kích thích (IBS) (15) – một chứng rối loạn tiêu hóa phổ biến – thêm trầm trọng.

Nếu đang mắc bệnh IBS, tốt nhất là bạn hãy tránh xa hoặc giới hạn lượng đậu nành mà bạn ăn uống hàng ngày.

Điểm mấu chốt: Tiêu thụ nhiều sản phẩm đậu nành có thể gây đầy hơi hoặc tiêu chảy ở một số người.

Dị ứng

Dị ứng thực phẩm là một tình trạng phổ biến, gây ra bởi một phản ứng miễn dịch có hại khi cơ thể phản ứng với các thành phần nhất định có trong thực phẩm.

Dị ứng đậu nành là phản ứng được kích thích bởi protein đậu nành, bao gồm glycinin và conglycinin, được tim thấy trong hầu hết các sản phẩm từ đậu nành (6).

Mặc dù đâu nành là một trong số 8 thực phẩm phổ biến nhất có khả năng gây dị ứng, nhưng dị ứng đậu nành lại rất ít khi xảy ra ở cả trẻ em và ngươi lớn (6162).

Điểm mấu chốt: một vài người dị ứng với đậu nành và cần phải tránh sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ chúng.

Tổng kết

Đậu nành có hàm lượng cao protein,và cũng chứa một lượng vừa phải carb và chất béo.

Chúng giàu vitamin và khoáng chất cũng như các hợp chất thực vật có lợi, như isoflavones.

Chính vì lý do này, đậu nành có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt, làm giảm các triệu chứng của thời kỳ mãn kinh.

Nói đến tác dụng phụ của đậu nành, chúng ta biết được rằng, chúng có thể gây vấn đề tiêu hóa và suy giảm chức năng tuyến giáp ở những người nhạy cảm.

Caroty tổng hợp từ Webmd, Pubmed, Healthscript, Authoritynutrition…

Nếu bạn thấy bài viết hữu ích hãy like và share ngay nhé.

Danh mục tài liệu tham khảo từ các công trình nghiên cứu, bằng chứng khoa học:

1. Chemical and nutritional characteristics of United States soybeans and soybean meals.
Grieshop CM1, Kadzere CT, Clapper GM, Flickinger EA, Bauer LL, Frazier RL, Fahey GC Jr.
2. Comparison of quality characteristics of soybeans from Brazil, China, and the United States.
Grieshop CM1, Fahey GC Jr.
3. Composition and characterization of soyabean and related products.
García MC1, Torre M, Marina ML, Laborda F.
4. United States Department of Agriculture
Agricultural Research Service
USDA Food Composition Databases
5. Soy protein in relation to human protein and amino acid nutrition.
Young VR1
6. Soybean allergens and hypoallergenic soybean products.
Ogawa A1, Samoto M, Takahashi K.
7. Meta-analysis of the effects of soy protein intake on serum lipids.
Anderson JW1, Johnstone BM, Cook-Newell ME.
8. Soy proteins and cardiovascular disease.
Sirtori CR1, Lovati MR.
9. Long-term intake of soy protein improves blood lipid profiles and increases mononuclear cell low-density-lipoprotein receptor messenger RNA in hypercholesterolemic, postmenopausal women.
Baum JA1, Teng H, Erdman JW Jr, Weigel RM, Klein BP, Persky VW, Freels S, Surya P, Bakhit RM, Ramos E, Shay NF, Potter SM.
10. The anticarcinogenic potential of soybean lectin and lunasin.
de Mejia EG1, Bradford T, Hasler C.
11. Soy constituents: modes of action in low-density lipoprotein management.
van Ee JH1.
12. http://www.glycemicindex.com/
13. Alpha-galactosides: antinutritional factors or functional ingredients?
Martínez-Villaluenga C1, Frias J, Vidal-Valverde C.
14. Perceptions of flatulence from bean consumption among adults in 3 feeding studies.
Winham DM1, Hutchins AM.
15. Manipulation of dietary short chain carbohydrates alters the pattern of gas production and genesis of symptoms in irritable bowel syndrome.
Ong DK1, Mitchell SB, Barrett JS, Shepherd SJ, Irving PM, Biesiekierski JR, Smith S, Gibson PR, Muir JG.
16. Butyrate suppresses colonic inflammation through HDAC1-dependent Fas upregulation and Fas-mediated apoptosis of T cells.
Zimmerman MA1, Singh N, Martin PM, Thangaraju M, Ganapathy V, Waller JL, Shi H, Robertson KD, Munn DH, Liu K.
17. Modulation of rat cecal microbiota by administration of raffinose and encapsulated Bifidobacterium breve.
Dinoto A1, Suksomcheep A, Ishizuka S, Kimura H, Hanada S, Kamagata Y, Asano K, Tomita F, Yokota A.
18. Determination of molybdenum in foods and human milk, and an estimate of average molybdenum intake in the Japanese population.
Hattori H1, Ashida A, Itô C, Yoshida M.
19. Update on the role of vitamin K in skeletal health.
Shea MK1, Booth SL.
20. Effect of folate intake on health outcomes in pregnancy: a systematic review and meta-analysis on birth weight, placental weight and length of gestation.
Fekete K1, Berti C, Trovato M, Lohner S, Dullemeijer C, Souverein OW, Cetin I, Decsi T.
21. Copper deficiency and heart disease: molecular basis, recent advances and current concepts.
Nath R1.
22. Manganese absorption in humans: the effect of phytic acid and ascorbic acid in soy formula.
Davidsson L1, Almgren A, Juillerat MA, Hurrell RF.
23. Solvent extraction selection in the determination of isoflavones in soy foods.
Murphy PA1, Barua K, Hauck CC.
24. Phytate in foods and significance for humans: food sources, intake, processing, bioavailability, protective role and analysis.
Schlemmer U1, Frølich W, Prieto RM, Grases F.
25. Complete quantification of group A and group B soyasaponins in soybeans.
Berhow MA1, Kong SB, Vermillion KE, Duval SM.
26. Soyasaponins lowered plasma cholesterol and increased fecal bile acids in female golden Syrian hamsters.
Lee SO1, Simons AL, Murphy PA, Hendrich S.
27. HPLC analysis of isoflavonoids and other phenolic agents from foods and from human fluids.
Franke AA1, Custer LJ, Wang W, Shi CY.
28. The clinical importance of the metabolite equol-a clue to the effectiveness of soy and its isoflavones.
Setchell KD1, Brown NM, Lydeking-Olsen E.
29. Method of defining equol-producer status and its frequency among vegetarians.
Setchell KD1, Cole SJ.
30. Prevalence of daidzein-metabolizing phenotypes differs between Caucasian and Korean American women and girls.
Song KB1, Atkinson C, Frankenfeld CL, Jokela T, Wähälä K, Thomas WK, Lampe JW.
31. Effects of soy-protein supplementation on epithelial proliferation in the histologically normal human breast.
McMichael-Phillips DF1, Harding C, Morton M, Roberts SA, Howell A, Potten CS, Bundred NJ.
32. Stimulatory influence of soy protein isolate on breast secretion in pre- and postmenopausal women.
Petrakis NL1, Barnes S, King EB, Lowenstein J, Wiencke J, Lee MM, Miike R, Kirk M, Coward L.
33. Breast development in the first 2 years of life: an association with soy-based infant formulas.
Zung A1, Glaser T, Kerem Z, Zadik Z.
34. Adolescent and adult soy intake and risk of breast cancer in Asian-Americans.
Wu AH1, Wan P, Hankin J, Tseng CC, Yu MC, Pike MC.
35. Case-control study of phyto-oestrogens and breast cancer.
Ingram D1, Sanders K, Kolybaba M, Lopez D.
36. Dietary isoflavones may protect against prostate cancer in Japanese men.
Nagata Y1, Sonoda T, Mori M, Miyanaga N, Okumura K, Goto K, Naito S, Fujimoto K, Hirao Y, Takahashi A, Tsukamoto T, Akaza H.
37. Soy consumption and prostate cancer risk in men: a revisit of a meta-analysis.
Yan L1, Spitznagel EL.
38. Nutritional and socioeconomic factors in relation to prostate cancer mortality: a cross-national study.
Hebert JR1, Hurley TG, Olendzki BC, Teas J, Ma Y, Hampl JS.
39. Soy isoflavones and cancer prevention.
Sarkar FH1, Li Y.
40. The anticarcinogenic potential of soybean lectin and lunasin.
de Mejia EG1, Bradford T, Hasler C.
41. Factors to consider in the association between soy isoflavone intake and breast cancer risk.
Nagata C1.
42. Early intake appears to be the key to the proposed protective effects of soy intake against breast cancer.
Messina M1, Hilakivi-Clarke L.
43. Dietary phyto-oestrogens and the menopause in Japan.
Adlercreutz H, Hämäläinen E, Gorbach S, Goldin B.
44. Isoflavone therapy for menopausal flushes: a systematic review and meta-analysis.
Howes LG1, Howes JB, Knight DC.
45. Effect of intestinal production of equol on menopausal symptoms in women treated with soy isoflavones.
Jou HJ1, Wu SC, Chang FW, Ling PY, Chu KS, Wu WH.
46. Phytoestrogen supplements for the treatment of hot flashes: the Isoflavone Clover Extract (ICE) Study: a randomized controlled trial.
Tice JA1, Ettinger B, Ensrud K, Wallace R, Blackwell T, Cummings SR.
47. Soy protein and isoflavones: their effects on blood lipids and bone density in postmenopausal women.
Potter SM1, Baum JA, Teng H, Stillman RJ, Shay NF, Erdman JW Jr.
48. Soy isoflavones for osteoporosis: an evidence-based approach.
Taku K1, Melby MK, Nishi N, Omori T, Kurzer MS.
49. Effect of long-term intervention of soy isoflavones on bone mineral density in women: a meta-analysis of randomized controlled trials.
Liu J1, Ho SC, Su YX, Chen WQ, Zhang CX, Chen YM.
50. Soy isoflavone intake increases bone mineral density in the spine of menopausal women: meta-analysis of randomized controlled trials.
Ma DF1, Qin LQ, Wang PY, Katoh R.
51. Soy isoflavone supplementation and bone mineral density in menopausal women: a 2-y multicenter clinical trial.
Wong WW1, Lewis RD, Steinberg FM, Murray MJ, Cramer MA, Amato P, Young RL, Barnes S, Ellis KJ, Shypailo RJ, Fraley JK, Konzelmann KL, Fischer JG, Smith EO.
52. Isoflavone-rich soy protein isolate attenuates bone loss in the lumbar spine of perimenopausal women.
Alekel DL1, Germain AS, Peterson CT, Hanson KB, Stewart JW, Toda T.
53. Unawareness of the effects of soy intake on the management of congenital hypothyroidism.
Fruzza AG1, Demeterco-Berggren C, Jones KL.
54. Goitrogenic and estrogenic activity of soy isoflavones.
Doerge DR1, Sheehan DM.
55. The effect of soy phytoestrogen supplementation on thyroid status and cardiovascular risk markers in patients with subclinical hypothyroidism: a randomized, double-blind, crossover study.
Sathyapalan T1, Manuchehri AM, Thatcher NJ, Rigby AS, Chapman T, Kilpatrick ES, Atkin SL.
56. [The effects on the thyroid gland of soybeans administered experimentally in healthy subjects].
[Article in Japanese]
Ishizuki Y1, Hirooka Y, Murata Y, Togashi K.
57. Phytoestrogen content of foods–a compendium of literature values.
Reinli K1, Block G.
58. Effects of soy protein and soybean isoflavones on thyroid function in healthy adults and hypothyroid patients: a review of the relevant literature.
Messina M1, Redmond G.
59. Soy protein isolates of varied isoflavone content do not influence serum thyroid hormones in healthy young men.
Dillingham BL1, McVeigh BL, Lampe JW, Duncan AM.
60. Seaweed and soy: companion foods in Asian cuisine and their effects on thyroid function in American women.
Teas J1, Braverman LE, Kurzer MS, Pino S, Hurley TG, Hebert JR.
61. Soy protein allergy: incidence and relative severity.
Cordle CT1.
62. Natural history of soy allergy and/or intolerance in children, and clinical use of soy-protein formulas.
Cantani A1, Lucenti P.