SỰ THẬT GÂY SỐC: TIỀN MUA SỮA CHÍNH LÀ TIỀN TIÊU HOANG

SỰ THẬT GÂY SỐC: TIỀN MUA SỮA CHÍNH LÀ TIỀN TIÊU HOANG
4.45 (89.09%) 55 votes

Caroty.com trân trọng gửi đến bạn bài viết: SỰ THẬT GÂY SỐC: TIỀN MUA SỮA CHÍNH LÀ TIỀN TIÊU HOANG

Bạn là người đang nuôi con ? Bạn thường xuyên mua sữa cho con uống với mong muốn con mình sẽ ngày càng thông minh, cao lớn và khỏe mạnh ?

Bạn là người thường xuyên tập luyện thể dục, chơi thể thao ? Bạn thường xuyên uống sữa để tăng cơ bắp, bổ sung năng lượng bị tiêu hao trong quá trình tập luyện, chơi thể thao ?

Bạn là người có thân hình thấp còi, thiếu cân ? Bạn mua sữa uống để tăng cân và bồi bổ cơ thể ?

Bạn là người đang có vấn đề về sức khỏe hoặc đang chữa bệnh ? Bạn mua sữa uống nhằm tăng cường sức đề kháng và hệ miễn dịch để giúp cơ thể nhanh chóng phục hồi như ban đầu ?

Nếu bạn đang hàng ngày mua sữa có nguồn gốc từ động vật cho dù với bất cứ mục đích gì đi chăng nữa thì bạn đang ném tiền qua cửa sổ.

Chưa hết đâu, bạn thậm chí  còn có nguy cơ rước thêm bệnh tật vào người bởi vì uống mỗi ly sữa mỗi ngày làm tăng nguy cơ tử vong vì mọi loại bệnh thêm 15%. Uống 3 ly sữa hoặc hơn mỗi ngày tăng nguy cơ gẫy xương hông ở phụ nữ thêm 60%, tăng nguy cơ tử vong thêm 93%.

Đọc đến đây có thể bạn đang hoài nghi, hoang mang hoặc thậm chí bị sốc nhưng đó lại chính là những khẳng định chắc nịch của Ủy ban Trách nhiệm Y khoa Hoa Kỳ (Physicians Committee for Responsible Medicine – PCRM).

TÁC HẠI KHÔN LƯỜNG CỦA SỮA ĐỘNG VẬT

Sữa là một chất tiết ra trong thời kì đầu khi các loài động vật có vú sinh con. Đây là một chất dinh dưỡng ngắn hạn để động vật nuôi con ngay sau khi sinh. Khi đến lúc “cai sữa”, con non được chuyển sang những thức ăn thích hợp với loài đó.

Theo quy luật tự nhiên, động vật có vú mới sinh sẽ uống sữa do mẹ chúng tiết ra. Vì vậy, sữa người là để cho trẻ sơ sinh, sữa chó để cho chó con, sữa bò để cho con bê, sữa mèo để cho mèo con và cứ thế.

Câu hỏi được đặt ra là tại sao chúng ta lại uống sữa bò ?

Chúng ta uống sữa bò vì bò là động vật có kích cỡ to lớn nên đem lại nguồn sữa dồi dào. Chúng ta uống sữa do thói quen, thậm chí do ảnh hưởng bởi nền văn hóa. Thêm vào đó các quảng cáo về lợi ích tuyệt vời của sữa bò luôn ra rả bên tai cũng chính là lý do thúc đẩy chúng ta thường xuyên sử dụng sữa bò.

Tuy nhiên, uống sữa của một loài khác có phải là điều khôn ngoan không? Có trái với các quy luật tự nhiên không ?

Phải nói ngay, đây là 1 vấn đề gây tranh cãi trên phạm vi toàn cầu giữa một bên là những nhà khoa học cẩn trọng, khách quan và một bên là những nhà khoa học được tài trợ bởi những công ty sữa, tập đoàn thực phẩm hàng đầu thế giới.

Ai đúng? Ai sai ? Câu trả lời ở đâu? Bạn có thể tin vào những quảng cáo của các hãng sữa không ? Các bác sĩ, chuyên gia dinh dưỡng mà bạn biết có được cập nhật kiến thức thường xuyên hay không ? Bản thân họ có thực hiện bất kỳ công trình nghiên cứu nào về sữa hay họ chỉ lặp lại những gì các giáo sư của họ biết từ nhiều năm trước? Những lời cảnh báo kêu gọi sự thận trọng thì sao?

Bạn cần biết rằng cứ mỗi 1 đôla mà Tổ chức Y tế thế giới WHO chi cho truyền thông để cảnh báo tác hại của kiểu ăn uống phương Tây thì các hãng sữa và thức ăn công nghiệp lại chi ra 500 đôla để quảng cáo ngược lại.

“Tiền mua sữa chính là tiền tiêu hoang” là phát biểu của Cameron Wells – Thạc sĩ Y tế Công cộng và là Chuyên gia dinh dưỡng của Ủy Ban Trách nhiệm Y khoa Hoa Kỳ khi nói về Chính sách Sữa học đường của Mỹ năm 2015.

Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, loài người sống trên hành tinh này từ nhiều triệu năm trước nhưng mới chỉ dùng sữa trong khoảng 1% thời gian tiến hóa gần đây. 99% thời gian tiến hóa và phát triển trước đây không dùng sữa.

Vì vậy, nếu coi sữa bò là RẤT RẤT RẤT cần thiết cho loài người theo ngành công nghiệp sữa và y học hiện đại đã khẳng định và quảng cáo rùm beng thì chắc chắn loài người sẽ không thể sống đến bây giờ.

Họ còn cả gan nói rằng uống sữa bò sẽ rất thông minh và điều này thì thật đáng nực cười vì vô số những thành tựu rực rỡ của nền văn minh nhân loại mà đến nay các nhà khoa học chưa thể giải thích được lại xuất hiện trong giai đoạn loài người không sử dụng sữa bò.

Chúng tôi tin rằng, hầu hết chúng ta đã thuộc lòng những lợi ích của sữa bò do thường xuyên bị tuyên truyền từ bé cho tới nay. Thế còn về mặt trái của nó thì sao? Đã có ai nói cho bạn biết về những tác hại khủng khiếp của sữa bò chưa ?

Sau đây là bản tóm tắt những tác hại khôn lường của việc uống sữa bò, cũng như sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ sữa động vật theo Ủy ban Trách nhiệm Y khoa Hoa Kỳ và vô số các nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới:

1. Sữa động vật gây ung thư

Một số loại ung thư như ung thư buồng trứng, ung thư nội mạc tử cung, ung thư vú, ung thư tiến tuyền liệt và ung thư gan đều có liên quan mật thiết đến việc sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ sữa động vật.

Ung thư buồng trứng

Phụ nữ thường xuyên sử dụng các sản phẩm từ sữa động vật có nguy cơ bị ung thư buồng trứng cao gấp 3 lần so với các phụ nữ khác. Nguyên nhân là do đường lactose trong sữa khi đi vào cơ thể được phân tách thành một lọai đường khác là galactose, sau đó đến lượt mình, đường galactose lại được các men enzyme phân tách tiếp.

Khi ta tiêu thụ nhiều các sản phẩm từ sữa vượt quá khả năng phân tách galactose của các enzyme, nó có thể tích lũy lại trong máu và ảnh hưởng đến buồng trứng của phụ nữ, nhất là đối với một số phụ nữ có lượng enzyme này đặc biệt thấp. Đây là kết quả nghiên cứu của Tiến sĩ Daniel Cramer và các đồng nghiệp tại Đại học Y khoa Havard.

Ung thư nội mạc tử cung

Tại Châu âu, một nghiên cứu kéo dài suốt 26 năm từ năm 1980 – 2006 trên 68.019 phụ nữ ở độ tuổi 34-59 đã tìm ra mối liên hệ giữa việc ăn uống bơ, sữa, phô mai hằng ngày và nguy cơ ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ mãn kinh không sử dụng thuốc hormone.

Trong nghiên cứu này, Bác sĩ, Tiến sĩ Gammaa và các đồng nghiệp cũng chỉ ra rằng cơ thể phụ nữ hấp thụ khoảng 60-80% estrogen từ những sản phẩm có nguồn gốc từ sữa động vật. Do đó, nếu estrogen được đưa vào cơ thể hằng ngày, chúng sẽ thúc đẩy quá trình phân chia tế bào ở nội mạc tử cung – một bước đầu của quá trình hình thành nên khối u dẫn đến nguy cơ cao gây ung thư.

Ung thư vú và tiến tuyền liệt

Ung thư vú và tuyến tiền liệt có nguyên nhân là do các sản phẩm từ sữa làm tăng một hợp chất có tên là IGF-I (Insulin-like Growth Factor-I) trong cơ thể con người. Chất này là một yếu tố tăng trưởng giống Insulin và được tìm thấy trong sữa bò và trong máu của những người thường xuyên tiêu thụ các sản phẩm từ sữa. Theo các nhà khoa học, nam giới có lượng IGF-I cao có nguy cơ mắc ung thư tiền liệt tuyến cao hơn gấp 4 lần so với những người có lượng IGF-I thấp.

Năm 2009, một nghiên cứu tổng hợp từ 25 nghiên cứu nhỏ khác từ năm 1984 đến 2003 cho thấy sự tương quan giữa việc uống sữa và ung thư tuyến tiền liệt. Nguyên nhân được cho là đa số bơ sữa được lấy từ bò đang mang thai nên lượng estrogen trong sữa khá cao cùng với IGF-I là 2 nhân tố thúc đẩy ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới.

Ung thư gan

Vào măm 2014, một nghiên cứu theo dõi dài hạn trên 477.206 người tham gia của EPIC cũng phát hiện ra rằng các chất dinh dưỡng từ sữa có nguồn gốc động vật như: lượng canxi, vitamin D, chất béo và đạm có thể tăng nguy cơ ung thư biểu mô tế bào gan, trong khi cùng những chất dinh dưỡng này lấy từ nguồn thực phẩm khác (ví dụ như từ nguồn thực vật) lại không gây ảnh hưởng nhiều tới gan.

2. Sữa động vật gây loãng xương

Sữa được quảng cáo giúp bổ sung canxi, phòng chống loãng xương, nhưng các nghiên cứu lại cho kết quả hoàn toàn trái ngược. Công trình nghiên cứu sức khỏe trong suốt 12 năm của các Y tá ĐH Havard (the Harvard Nurses’ Health Study) đối với 77.761 phụ nữ tuổi từ 34 đến 59 tuổi cho thấy việc uống nhiều sữa không có tý hiệu quả bảo vệ nào đối với nguy cơ gẫy xương.

Trên thực tế, việc tăng nạp canxi từ các sản phẩm sữa liên quan đến nguy cơ gẫy xương cao hơn. Một nghiên cứu công bố trên JAMA Pediatrics năm 2014, theo dõi 100.000 người cả phụ nữ và đàn ông trong hơn hai thập kỷ, xem việc uống sữa có giúp giảm tỉ lệ rạn xương hay không. Kết quả là sữa không hề giúp cải thiện tỉ lệ này.

Thống kê mới đây của Ganmaa Davaasambuu, công tác tại Trường Y cộng đồng thuộc Đại học Harvard cho thấy hàm lượng canxi của người dân các quốc gia tiêu thụ ít sản phẩm từ sữa như Peru, Trung Quốc, Ba Lan hay Nhật Bản thấp hơn hẳn những nước khác. Trong khi đó, Thống kê cho thấy, trung bình mỗi người Mỹ tiêu thụ 104 lít sữa bò mỗi năm. Mỹ và một số nước trong Liên minh Châu Âu có tỷ lệ tiêu thụ sữa hàng đầu thế giới, nhưng cũng là các nước có bệnh nhân loãng xương cao nhất.

Tiến sĩ Amy Lanou, giám đốc dinh dưỡng cho Ủy ban Y sĩ Trách Nhiệm Y khoa Washington, DC đã nói rằng: “Các quốc gia có tỷ lệ loãng xương cao nhất lại là những nơi mà người dân uống sữa nhiều nhất và có nhiều canxi nhất trong khẩu phần ăn của họ. Sự liên hệ giữa tiêu thụ canxi và sức khỏe xương là không đúng đắn, và sự kết nối giữa việc tiêu thụ sữa và sức khỏe của xương là gần như không có cơ sở khoa học”.

Nhiều người tất nhiên đặt câu hỏi ‘Vậy chúng ta lấy canxi ở đâu bây giờ ?’ Câu trả lời là : ‘Ở cùng một chỗ mà con bò lấy canxi của nó, từ những thứ màu xanh mọc lên từ đất’, chủ yếu là rau lá. Voi, tê giác cũng phát triển những bộ xương khổng lồ của chúng (sau khi đã cai sữa) bằng cách ăn lá cây xanh. Vì vậy, bạn có thể tự giảm nguy cơ loãng xương cho mình bằng cách giảm ăn muối và đạm động vật, tăng ăn rau và trái cây, tập thể dục, và đảm bảo nạp đủ canxi từ các thức ăn thực vật như các lọai rau lá màu xanh và đậu hạt, cũng như các sản phẩm tăng cường canxi như ngũ cỗc ăn sáng và nước trái cây.

Theo Ủy ban Trách nhiệm Y khoa Hoa Kỳ: “Uống mỗi ly sữa mỗi ngày làm tăng nguy cơ tử vong vì mọi loại bệnh thêm 15%. Uống 3 ly sữa hoặc hơn mỗi ngày tăng nguy cơ gẫy xương hông ở phụ nữ thêm 60%, tăng nguy cơ tử vong thêm 93%”

3. Sữa động vật gây tiểu đường

Các chứng bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin (tiểu đường tuýp 1 hay tiểu đường ở người trẻ) có liên quan đến việc tiêu thụ các sản phẩm từ sữa. Các nghiên cứu bệnh dịch học ở nhiều nước cho thấy một mối tương quan mạnh mẽ giữa việc tiêu thụ các sản phẩm từ sữa với các trường hợp mắc tiểu đường phụ thuộc insulin.

Năm 1992, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng một lọai protein trong sữa kích họat một phản ứng tự miễn trong cơ thể, điều được cho là tác nhân phá hủy các tế bào sản sinh insulin của tuyến tụy.

Theo TS – Lương y Phùng Tuấn Giang – Chủ tịch Tổ chức Quốc tế chữa bệnh bằng liệu pháp thiên nhiên tại Việt Nam  “Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã tìm ra mối liên quan giữa sữa bò và bệnh đái tháo đường tuýp 1. Hệ miễn dịch của con người đã nhận lầm Protein trong sữa bò (Casein) với các tế bào β của cơ thể, và sẽ tấn công các tế bào đó và gây ra bệnh tự miễn và đái tháo đường Tuýp 1”.

4. Sữa động vật gây bệnh tim mạch

Các sản phẩm từ sữa động vật bao gồm phomai, kem, sữa, bơ và sữa chua cung cấp một lượng đáng kể cholesterol và chất béo. Một chế độ ăn nhiều chất béo và chất béo bão hòa có thể làm tăng nguy cơ gây ra một số bệnh mãn tính trong đó có bệnh tim mạch.

Nghiên cứu mới công bố đầu năm 2016 trên trang Eatwell cho thấy tiêu thụ quá nhiều sữa và các sản phẩm từ sữa có thể dẫn đến nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Theo nghiên cứu này, sữa chứa hàm lượng cao chất béo bão hòa. Không những thế, một chế phẩm từ sữa là pho mát còn chứa rất nhiều muối. Cả hai chất này đều không tốt cho sức khỏe, làm gia tăng lượng cholesterol trong máu, từ đó làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

Thạc sĩ Margaret Moss, Giám đốc Trung tâm y tế dinh dưỡng và dị ứng tại Thành phố Manchester Vương Quốc Anh trong công trình nghiên cứu của mình xuất bản trên tạp chí Journal of Nutritional & Environmental Medicine năm 2002 đã viết: “Các nghiên cứu được xuất bản đã chỉ ra sự liên hệ mật thiết giữa việc sử dụng sữa động vật ở những quốc gia khác nhau và tỉ lệ tử vong do bệnh tim mạch trong những năm gần đây. Một cuộc điều tra đã cho thấy rằng các nước gần đây giảm việc tiêu thụ sữa cũng đã giảm tỷ lệ tử vong vì bệnh tim mạch vành. Trong khi đó, Bồ Đào Nha khi tăng tỉ lệ sử dụng sữa thì đồng thời tăng tỉ lệ tử vong vì bệnh tim mạch vành.” 

5. Sữa động vật gây ra chứng dậy thì sớm ở trẻ sơ sinh và trẻ em

Sữa tự nhiên có chứa các hoóc môn của bò cái, bên cạnh đó còn có một lượng hoóc môn đáng kể được người chăn nuôi dùng cho bò của mình để tăng sản lượng sữa, sự kết hợp này có thể ảnh hưởng đến chức năng nội tiết tố tự nhiên của con người.

Bản thân con bò nếu ko bị tiêm hormone tăng trưởng thì sữa của nó cũng ko phù hợp cho sự phát triển của con người. Chúng ta sẽ dùng phép so sánh đơn giản để làm rõ vấn đề: Con bê sinh ra sẽ biết tự đi đứng ngay trong vòng 30 phút – 1 giờ đồng hồ, trưởng thành hoàn toàn sau 12 tháng và có thể sinh sản sau 18 tháng. Nhưng con người cần 12 tháng để tập đi, 18 năm để trưởng thành và 24 tuổi mới nên sinh con. Vì vậy, lượng hormone tự nhiên có trong sữa bò, dùng cho bê con lớn lên đúng chuẩn loài bò, là hoàn toàn không phù hợp với loài người. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy mối liên quan giữa sự phổ biến của sữa bò trong những năm gần đây và tình trạng dậy thì sớm ở trẻ em.

6. Sữa động vật nhiễm rất nhiều hóa chất độc hại

50 năm trước một con bò sản xuất trung bình 1000 lít sữa một năm. Ngày nay, những nhà sản xuất hàng đầu cho ra hơn 20.000 lít ! Họ làm thế nào ? Thuốc, thuốc kháng sinh, hormone, nhồi ăn và nhân giống đặc biệt. Họ làm thế đấy.

Các hormone tổng hợp như hormone tăng trưởng trên bò (rBGH) được sử dụng phổ biến trên bò sữa để tăng sản lượng sữa. Do phải tiết ra một lượng sữa lớn trái với tự nhiên, kết quả cuối cùng là bò bị bệnh viêm tuyến vú. Việc chữa bệnh này cần dùng thuốc kháng sinh, và dư lượng kháng sinh và hormone này đã được tìm thấy trong mẫu sữa và các sản phẩm từ sữa bò.

Bất cứ động vật cho con bú nào cũng thải chất độc trong cơ thể qua sữa của nó. Chất độc ở đây bao gồm thuốc kháng sinh, thuốc trừ sâu, hóa chất và hormone. Và tất cả sữa bò đều chứa máu và mủ.

Ngoài ra, nếu bò sữa ăn cỏ bị phơi nhiễm thuốc trừ sâu thì trong sữa cũng chứa tàn dư, đồng thời, còn có nhiều chất gây ô nhiễm khác như melamin, các độc tố aflatoxin mà thậm chí thanh trùng cũng không loại bỏ được.

Video quay ngược thời gian quá trình tạo ra ly sữa bò thơm ngon

7. Sữa động vật và tình trạng không dung nạp Lactose

Chứng không dung nạp Lactose phổ biến ở một số chủng tộc và ảnh hưởng đến khoảng 95% người Mỹ gốc châu Á, 74% người Mỹ bản xứ, 70% người Mỹ gốc Phi, 53% người Mỹ gốc Mêhicô và 15% người da trắng Caucasian. Các triệu chứng bao gồm rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, đau bụng, buồn nôn chóng mặt…Nguyên nhân của các triệu chứng này là do những người không dung nạp Lactose không có các loại enzyme tiêu hóa đường lactose trong sữa.

Lactose và đường trong sữa bò có thể gây khó chịu trong dạ dày cũng như các vấn đề về tiêu hóa. Nguyên nhân là do quá trình chuyển hóa lactozo vào thành ruột gây kích ứng dạ dày khiến ruột bị co thắt, hậu quả là gây nên tình trạng đau. Trong khi đó, triệu chứng tiêu chảy xảy ra khi ruột bị co thắt và chất thải bị đẩy về phía trực tràng nhanh hơn để hấp thụ hết lactose.

Viện nghiên cứu Quốc gia về tiểu đường và các bệnh đường tiêu hóa (Mỹ) cho biết, thành phần lactose trong sữa có thể gây chứng buồn nôn do dạ dày bị kích ứng trong quá trình chuyển hóa lactose. Các nhà khoa học khuyên nên uống sữa trước khi đi ngủ bởi một vài thành phần trong nó gây nên tình trạng chóng mặt, buồn ngủ.

8. Sữa động vật gây ra các vấn đề về sức khỏe khác

Việc tiêu thụ các sản phẩm từ sữa có thể không cung cấp một nguồn vitamin D ổn định và đáng tin cậy trong chế độ ăn. Nghiên cứu các mẫu sữa được chọn mẫu cho thấy có sự khác biệt đáng kể về lượng vitamin D, một số mẫu sữa chứa đến 500 lần lượng ghi trên nhãn trong khi một số mẫu khác lại có rất ít hoặc không hề có vitamin D. Quá nhiều vitamin D có thể gây ngộ độc và có thể dẫn đến có quá nhiều canxi trong máu và nước tiểu, làm tăng hấp thụ nhôm trong cơ thể và gây lắng đọng canxi trong các mô mềm.

Bệnh thiếu máu là do thiếu sắt trong cơ thể. Bệnh nhân cần bổ sung sắt để khắc phục tình trạng này nhưng sữa lại ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng hấp thu sắt. Do vậy, Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ đã khuyến cáo không nên cho trẻ em dưới 12 tháng tuổi uống sữa bò.

Lớp chất nhầy mỏng trong đường hô hấp dùng để lọc các tạp chất. Sữa tạo ra nhiều chất nhầy trong đường hô hấp do liên kết chúng với nhau khiến lớp này dày lên. Đây là nguyên nhân gây ra các vấn đề về xoang, hen suyễn và viêm phế quản.

Cuộc tranh cãi xem sữa bò có tốt hay không chắc chắn vẫn chưa có hồi kết. Tuy nhiên, với những thông tin có bằng chứng khoa học kể trên, chắc chắn rằng bạn đã có cái nhìn khách quan hơn, toàn diện hơn về sữa bò và chí ít cũng không còn tin sữa bò là một thực phẩm bổ dưỡng hoàn hảo, tuyệt vời như vẫn thường được nghe trên quảng cáo nữa.

Danh mục tài liệu tham khảo từ các công trình nghiên cứu, bằng chứng khoa học:

1. Feskanich D, Willett WC, Colditz GA. Calcium, vitamin D, milk consumption, and hip fractures: a prospective study among postmenopausal women. Am J Clin Nutr. 2003;77:504–511.
2. Lanou AJ, Berkow SE, Barnard ND. Calcium, dairy products, and bone health in children and young adults: a reevaluation of the evidence. Pediatrics. 2005;115:736–743.
3. Sonneville KR, Gordon CM, Kocher MS, Pierce LM, Ramappa A, Field AE. Vitamin D, calcium, and dairy intakes and stress fractures among female adolescents. Arch Pediatr Adolesc Med. 2012;166:595-600.
4. Reid DM, New SA. Nutritional influences on bone mass. Proceed Nutr Soc. 1997;56:977–987.
5. Lin P, Ginty F, Appel L, et al. The DASH diet and sodium reduction improve markers of bone turnover and calcium metabolism in adults. J Nutr. 2001;133:3130–3136.
6. Tucker KL, Hannan MR, Chen H, Cupples LA, Wilson PWF, Kiel DP. Potassium, magnesium, and fruit and vegetable intakes are associated with greater bone mineral density in elderly men and women. Am J Clin Nutr. 1999;69:727–736.
7. National Institutes of Health. NIH Osteoporosis and Related Bone Diseases National Resource Center. Calcium and Vitamin D: Important at Every Age. Available at: http://www.niams.nih.gov/Health_Info/Bone/Bone_Health/Nutrition/. Accessed September 24, 2013.
8. Prince R, Devine A, Dick I, et al. The effects of calcium supplementation (milk powder or tablets) and exercise on bone mineral density in postmenopausal women. J Bone Miner Res. 1995;10:1068–1075.
9. Going S, Lohman T, Houtkooper L, et al. Effects of exercise on bone mineral density in calcium-replete postmenopausal women with and without hormone replacement therapy. Osteoporos Int. 2003;14:637–643.
10. Lunt M, Masaryk P, Scheidt-Nave C, et al. The effects of lifestyle, dietary dairy intake and diabetes on bone density and vertebral deformity prevalence: the EVOS study. Osteoporos Int. 2001;12:688–698.
11. Lloyd T, Beck TJ, Lin HM, et al. Modifiable determinants of bone status in young women. Bone. 2002;30:416–421.
12. Holick MF, Garabedian M. Vitamin D: photobiology, metabolism, mechanism of action, and clinical applications. In: Favus MJ, ed. Primer on the Metabolic Bone Diseases and Disorders of Mineral Metabolism. 6th ed. Washington, DC: American Society for Bone and Mineral Research; 2006:129-137.
13. Holick M. The vitamin D epidemic and its health consequences. J Nutr. 2005;135:2739S–2748S.
14. Zhang R, Naughton D. Vitamin D in health and disease: current perspectives. Nutr J. 2010;9:65.
15. Warensjo E, Jansson JH, Berglund L, et al. Estimated intake of milk fat is negatively associated with cardiovascular risk factors and does not increase the risk of a first acute myocardial infarction. Br J Nutr. 2004;91:635–642.
16. Szeto YT, Kwok TC, Benzie IF. Effects of a long-term vegetarian diet on biomarkers of antioxidants status and cardiovascular disease risk. Nutrition. 2004;20:863–866.
17. Ornish D, Brown SE, Scherwitz LW, et al. Can lifestyle changes reverse coronary heart disease? Lancet. 1990;336:129–133.
18. Qin L, Xu J, Wang P, Tong J, Hoshi K. Milk consumption is a risk factor for prostate cancer in Western countries: evidence from cohort studies. Asia Pac J Clin Nutr. 2007;16:467–476.
19. Song Y, Chavarro JE, Cao Y, et al. Whole milk intake is associated with prostate cancer-specific mortality among U.S. male physicians. J Nutr. 2013;143:189-196.
20. Chan JM, Stampfer MJ, Ma J, Gann PH, Gaziano JM, Giovannucci E. Dairy products, calcium, and prostate cancer risk in the Physicians’ Health Study. Am J Clin Nutr. 2001;74:549-554.
21. Kroenke CH, Kwan ML, Sweeney C, Castillo A, Caan Bette J. High-and low-fat dairy intake, recurrence, and mortality after breast cancer diagnosis. J Natl Cancer Inst. 2013;105:616-623.
22. Voskuil DW, Vrieling A, van’t Veer LJ, Kampman E, Rookus MA. The insulin-like growth factor system in cancer prevention: potential of dietary intervention strategies. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev. 2005;14:195–203.
23. Cadogan J, Eastell R, Jones N, Barker ME. Milk intake and bone mineral acquisition in adolescent girls: randomised, controlled intervention trial. BMJ. 1997;315:1255–1260.
24. Qin LQ, He K, Xu JY. Milk consumption and circulating insulin-like growth factor-I level: a systematic literature review. Int J Food Sci Nutr. 2009;60:330-340.
25. Cohen P. Serum insulin-like growth factor-I levels and prostate cancer risk—interpreting the evidence. J Natl Cancer Inst. 1998;90:876–879.
26. Chan JM, Stampfer MJ, Giovannucci E, et al. Plasma insulin-like growth factor-1 and prostate cancer risk: a prospective study. Science. 1998;279:563–565.
27. Chan JM, Stampfer MJ, Ma J, Gann PH, Gaziano JM, Giovannucci E. Dairy products, calcium, and prostate cancer risk in the Physicians’ Health Study. Am J Clin Nutr. 2001;74:549–554.
28. Tseng M, Breslow RA, Graubard BI, Ziegler RG. Dairy, calcium and vitamin D intakes and prostate cancer risk in the National Health and Nutrition Examination Epidemiologic Follow-up Study cohort. Am J Clin Nutr. 2005;81:1147–1154.
29. Farlow DW, Xu X, Veenstra TD. Quantitative measurement of endogenous estrogen metabolites, risk-factors for development of breast cancer, in commercial milk products by LC-MS/MS. J Chromatogr B. 2009;877:1327-1334.
30. Cramer DW, Greenberg ER, Titus-Ernstoff L, et al. A case-control study of galactose consumption and metabolism in relation to ovarian cancer. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev. 2000;9:95–101.
31. Larsson SC, Bergkvist L, Wolk A. Milk and lactose intakes and ovarian cancer risk in the Swedish Mammography Cohort. Am J Clin Nutr. 2004;80:1353–1357.
32. Kushi LH, Mink PJ, Folsom AR, et al. Prospective study of diet and ovarian cancer. Am J Epidemiol. 1999;149:21–31.
33. Bertron P, Barnard ND, Mills M. Racial bias in federal nutrition policy, part I: the public health implications of variations in lactase persistence. J Natl Med Assoc. 1999;91:151–157.
34. Swallow DM. Genetics of lactase persistence and lactose intolerance. Annu Rev Genet. 2003;37:197–219.
35. Outwater JL, Nicholson A, Barnard N. Dairy products and breast cancer: the IGF- 1, estrogen, and bGH hypothesis. Med Hypothesis. 1997;48:453–461.
36. Bhandari SD, Schmidt RH, Rodrick GE. Hazards resulting from environmental, industrial, and agricultural contaminants. In: Schmidt RH, Rodrick GE, eds. Food Safety Handbook. Hoboken, N.J.: John Wiley & Sons, Inc.; 2005:291–321.
37. Baars AJ, Bakker MI, Baumann RA, et al. Dioxins, dioxin-like PCBs and nondioxin- like PCBs in foodstuffs: occurrence and dietary intake in the Netherlands. Toxicol Lett. 2004;151:51–61.
38. Fischer WJ, Schilter B, Tritscher AM, Stadler RH. Contaminants of milk and dairy products: contamination resulting from farm and dairy practices. In: Fuquay JW, ed. Encyclopedia of Dairy Sciences. 2nd ed. San Diego, CA: Academic Press; 2011:887–897.
39. Prandini A, Tansini G, Sigolo S, Filippi L, Laporta M, Piva G. On the occurrence of aflatoxin M1 in milk and dairy products. Food Chem Toxicol. 2009;47:984–991.
40. Saukkonen T, Virtanen SM, Karppinen M, et al. Significance of cow’s milk protein antibodies as risk factor for childhood IDDM: interaction with dietary cow’s milk intake and HLA-DQB1 genotype. Childhood Diabetes in Finland Study Group. Dibetologia. 1998;41:72–78.
41. Kimpimaki T, Erkkola M, Korhonen S, et al. Short-term exclusive breastfeeding predisposes young children with increased genetic risk of type I diabetes to progressive beta-cell autoimmunity. Diabetologia. 2001;44:63–69.
42. Eidelman AI, Schanler RJ. Policy statement: breastfeeding and the use of human milk. From the American Academy of Pediatrics. Pediatrics. 2012;129:827–841.
43. Scharf RJ, Demmer RT, DeBoer MD. Longitudinal evaluation of milk type consumed and weight status in preschoolers. Arch Dis Child. 2013; 98:335-340.
44. Chen M, Pan A, Malik VS, Hu FB. Effects of dairy intake on body weight and fat: a meta-analysis of randomized controlled trials. Am J Clin Nutr. 2012;96:735-747.
45. Gartner LM, Morton J, Lawrence RA, et al. Breastfeeding and the use of human milk. Pediatrics. 2005;115:496–506.
46. Pennington JAT, Douglass JS. Bowes and Church’s Food Values of Portions Commonly Used. 18th ed. Baltimore, MD: Lippincott Williams & Wilkins; 2005.
47. Lucassen PL, Assendelft WJ, van Eijk JT, Gubbels JW, Douwes AC, van Geldrop WJ. Systematic review of the occurrence of infantile colic in the community. Arch Dis Child. 2001;84:398–403.
48. Jarvinen KM, Makinen-Kiljunen S, Suomalainen H. Cow’s milk challenge through human milk evoked immune responses in infants with cow’s milk allergy. J Pediatr. 1999;135:506–512.
49. Paronen J, Bjorksten B, Hattevig G, Akerblom HK, Vaarala O. Effect of maternal diet during lactation on development of bovine insulin-binding antibodies in children at risk for allergy. J Allergy Clin Immunol. 2000;106:302–306.
50. Sampson HA. Food allergy. Part 1: immunopathogenesis and clinical disorders. J Allergy Clin Immunol. 2004;113:805–819.
51. Host A. Frequency of cow’s milk allergy in childhood. Ann Allergy Asthma Immunol. 2002;89(6 Suppl 1):33–37.
52. Iacono G, Cavataio F, Montalto G, et al. Intolerance of cow’s milk and chronic constipation in children. N Engl J Med. 1998;339:1100–1104
53.http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1359084021000006876

THẾ GIỚI ĐANG UỐNG CÁI GÌ ?

Một bí mật khiến bạn có thể ngạc nhiên đó là phần lớn mọi người sống trên trái đất ngày nay không uống sữa bò cho dù họ rất thích hương vị của nó. Nguyên nhân là do là hiện tượng không dung nạp lactose nói ở trên. Vấn đề này xảy ra với ba phần tư dân số toàn cầu và phần lớn trong số họ không biết là cơ thể mình không dung nạp lactose.

¾ Dân số thê giới không dung nạp lactose dẫn đến các triệu chứng như buồn nôn, chóng mặt, đau bụng, tiêu chảy sau khi uống sữa tùy vào từng cơ địa và số lượng tiêu thụ.

Mặc dù không gặp các vấn đề về sức khỏe do tình trạng không dung nạp lactose khi sử dụng sữa động vật nhưng ¼ dân số còn lại đang dần chuyển sang sử dụng các sản phẩm khác có lợi cho sức khỏe thay thế thế cho sữa động vật và các đồ uống khác gây hại cho sức khỏe.

Theo Financial Times sự phổ biến của sữa thực vật đang ngày càng phát triển rộng rãi trong khi sữa bò đã chuyển sang vị “chua” trước những lo ngại về hàm lượng chất béo bão hòa, các sản phẩm chứa hormone, tình trạng không dung nạp lactose và việc sử dụng thuốc kháng sinh.

Trong những năm gần đây, một cuộc cách mạng đối với khẩu vị của người Mỹ đã diễn ra khi ngày càng có nhiều người tiêu dùng chuyển sang sử dụng những sản phẩm có lợi cho sức khỏe có nguồn gốc thực vật.

Xu hướng này đang lan rộng ra toàn cầu khi người tiêu dùng tại những nước Mỹ Latinh giờ đây cũng đã từ bỏ những loại đồ uống có ga (fizzy drink) để chuyển sang các loại đồ uống có lợi cho sức khỏe.

Doanh số bán hàng của các loại sữa thực vật đã tăng hơn gấp đôi trong giai đoạn từ 2009 – 2015 lên con số 21 tỷ đô la theo Tập đoàn Nghiên cứu thị trường Euromonitor.

Biểu đồ so sánh lượng tiêu thụ của sữa bò (màu nhạt) so với các loại sữa có nguồn gốc thực vật thay thế (mầu đậm) trong giai đoạn từ năm 2001 – 2015.

Cũng theo Tập đoàn nghiên cứu thị trường Euromonitor, trong vòng 5 năm kể từ năm 2010-2014, doanh số bán hàng của các loại sữa hạnh nhân, sữa dừa, sữa gạo, sữa yến mạch đã tăng gấp đôi ở Tây Âu, tăng gấp 3 ở Australia và đặc biệt tăng gấp 9 lần ở Bắc Mỹ.

Nhận thấy sự thay đổi trong thói quen ăn uống của khách hàng khi giờ đây họ ngày càng tránh xa những sản phẩm có hại cho sức khỏe, Coca-Cola – một cây đại thụ trong ngành đồ uống giải khát nhưng lại là “một tay mơ” trong phân khúc thị trường đồ uống từ thực vật đã chi 575 triệu đô la vào giữa năm 2016 để mua lại thương hiệu đồ uồng AdeS của Unilevel tại khu vực Mỹ Latinh (AdeS là thương hiệu chuyên cung cấp các sản phẩm có nguồn gốc thực vật như sữa đậu nành, nước hoa quả tại Argentina, Brazil and Mexico).

Biểu đồ so sánh mức độ tăng trưởng trung bình hàng năm của sữa bò (màu nhạt) so với các loại sữa có nguồn gốc thực vật thay thế (màu đậm) tại các khu vực trên thế giới trong giai đoạn từ năm 2005 – 2010.

SỮA THỰC VẬT LÀ GÌ ?

Sữa thực vật (plant-based milk) là sữa được làm từ các loại thực vật trong tự nhiên như:  đậu nành, hạnh nhân, óc chó, hạt điều, gạo, dừa…. Theo rất nhiều nghiên cứu khoa học, sữa làm từ thực vật là một nguồn bổ sung dinh dưỡng tuyệt cho sức khỏe con người.

Sữa thực vật có nguồn gốc từ nhiều thể kỷ trước và được dùng ở trong các nền văn hóa khác nhau như là thức uống giàu dinh dưỡng để thay thế cho sữa có nguồn gốc từ động vật hoặc thức uống hàng ngày như : Amazake – đồ uống truyền thống của Nhật Bản được làm từ gạo lên men hay Horchata – một loại đồ uống truyền thống của Tây Ban Nha được làm từ hạnh nhân, hạt vừng, gạo, lúa mạch, hạt dưa…Đồ uống này thậm chí còn có nhiều hương vị khác nhau tại các nước ở khu vực Châu Mỹ do sự giao thoa của các nền văn hóa.

Căn cứ vào nguồn gốc các loại thực vật được sử dụng trong quá trình tạo ra thức uống dĩnh dưỡng này thì sữa thực vật gồm 04 loại như sau:

  • Sữa được làm từ các loại ngũ cốc: Lúa mạch, gạo, yến mạch, lúa mỳ…
  • Sữa được làm từ các cây họ đậu: Đậu nành (đậu tương), đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ, đậu Hà Lan…
  • Sữa được làm từ các loại quả: Quả óc chó, quả Macca, quả hạnh nhân, quả dừa, quả phỉ, quả hạnh đào…
  • Sữa được làm từ các loại hạt: Hạt Chia, hạt điều, hạt hướng dương, hạt vừng, hạt dầu gai, hạt ngô, hạt lanh…

Khách quan mà nói sữa thực vật có các thành phần dinh dưỡng ít hơn so với sữa động vật, nhất là protein. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là sữa thực vật không chứa những nguy cơ tiềm ẩn gây nguy hại cho sức khỏe người tiêu dùng.

Cho đến nay, chưa có bất kỳ bằng chứng khoa học hay công trình nghiên cứu nào chỉ ra các thành phần trong sữa thực vật có thể gây nguy hại đến sức khỏe con người dù là nhỏ nhất (trừ trường hợp sử dụng quá nhiều với thành phần nguyên liệu biến đổi gen hoặc không rõ nguồn gốc).

AI NÊN UỐNG SỮA THỰC VẬT ?

– Những người không dung nạp lactose

– Những người đang thực hiện chế độ ăn chay, ăn thực dưỡng

– Những người theo các chế độ tôn giáo, tín ngưỡng không sử dụng các thực phẩm có nguồn gốc động vật.

– Những người muốn bổ sung dinh dưỡng cho cơ thể một cách TUYỆT ĐỐI AN TOÀN mà không cần phải lo lắng về các nguy cơ tiềm ẩn hoặc tác hại khôn lường do chính những thực phẩm mà họ đang sử dụng mang lại.

LÀM SỮA THỰC VẬT TẠI NHÀ NHƯ THẾ NÀO ?

Một điều tuyệt vời là thức uống dinh dưỡng này lại rất dễ làm tại nhà. Sau đây là hướng dẫn chi tiết cách làm một số loại sữa thực vật đơn giản tại nhà:

MUA SỮA THỰC VẬT Ở ĐÂU TỐT ?

Mặc dù làm sữa thực vật rất dễ dàng, tuy nhiên, không phải ai cũng có thời gian và các trang thiết bị cần thiết để làm. Do đó, giải pháp lúc này là mua sữa thực vật được làm sẵn ở bên ngoài, tuy nhiên các bạn phải hết sức lưu ý trước vấn nạn thực phẩm bẩn như hiện nay.

Ngoài thị trường hiện tại có rất nhiều nơi bán sữa thực vật, sữa hạt với nhiều mức giá khác nhau. Dưới đây là một số đặc điểm chung của hầu hết các cửa hàng này:

Stt Đặc điểm Mục đích Tác động đến người tiêu dùng
1 Sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc xuất sứ (đa phần mua buôn từ Trung Quốc). Giảm chi phí cấu thành sản phẩm, qua đó giúp tăng lợi nhuận Có nguy cơ cao gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng
2 Sử dụng nguyên liệu biến đổi gen (có thể có nguồn gốc, xuất sứ rõ ràng) Giảm chi phí cấu thành sản phẩm, qua đó giúp tăng lợi nhuận Có nguy cơ cao gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng
3 Sử dụng chất bảo quản thực phẩm Giữ sản phẩm lâu hỏng hơn để tránh bị ế hàng Có nguy cơ cao gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng
4 Sử dụng chất tạo màu thực phẩm Giúp sản phẩm nhìn đẹp mắt hơn để kích thích người tiêu dùng mua hàng Có nguy cơ cao gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng
5 Sử dụng chất ổn định Giúp duy trì sự phân tán của hai hay nhiều thành phần nhằm tạo nên sự đồng nhất cho sản phẩm Có nguy cơ cao gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng
6 Sử dụng chất tạo sánh

Để tạo sánh đồng nhất (ổn định) dung dịch sữa Có nguy cơ cao gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng
7 Sử dụng chất nhũ hóa

Nhằm ổn định hệ nhũ tương của sản phẩm, cải thiện cấu trúc, chất lượng cho sản phẩm, tăng giá trị cảm quan, tránh hiện tượng sữa bị tách pha hay bị lắng khi bảo quản. Có nguy cơ cao gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng
8 Sử dụng hương liệu nhân tạo, chất tạo vị và chất điều vị Làm tăng hương vị cho sản phẩm để kích thích người tiêu dùng mua hàng Có nguy cơ cao gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng

Chúng ta sử dụng các sản phẩm sữa thực vật, sữa hạt để tăng cường sức khỏe nhưng nếu mua sản phẩm từ những cửa hàng không có uy tín, luôn đặt lợi nhuận của mình lên trên lợi ích của khách hàng thì sẽ gây nên tác dụng ngược. Đó chính là Tiền Mất Tật Mang.

Sữa thực vật cao cấp Caroty có nguồn gốc 100% thiên nhiên, cung cấp cho bạn nguồn dinh dưỡng tuyệt vời giúp bạn có một cơ thể khỏe mạnh và một vóc dáng trẻ trung.

Sữa thực vật cao cấp Caroty là sữa thực vật đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam cam kết “8 KHÔNG”:

  1. Không sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc
  2. Không sử dụng nguyên liệu biến đổi gen
  3. Không sử dụng chất bảo quản thực phẩm
  4. Không sử dụng chất tạo màu thực phẩm
  5. Không sử dụng chất ổn định
  6. Không sử dụng chất tạo sánh
  7. Không sử dụng chất nhũ hóa
  8. Không sử dụng hương liệu nhân tạo, chất tạo vị và chất điều vị

Chưa hết,

Sữa thực vật cao cấp Caroty còn cam kết “3 CÓ”:

1. Có đội ngũ nhân sự am hiểu về sản phẩm, luôn đặt lợi ích của khách hàng lên cao nhất để hết lòng đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng.

2. Có chứng nhận hữu cơ của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ – Ủy ban Hữu cơ Quốc Gia (USDA) và  chứng nhận Non-GMO Project (Dự án thực phẩm không biến đổi gen) đối với nguyên liệu tạo sản phẩm.

• Chứng nhận hữu cơ của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ – Ủy ban Hữu cơ Quốc Gia (USDA) là chứng nhận tiêu chuẩn hữu cơ nghiêm ngặt và khắt khe bậc nhất trên thế giới. Cơ quan này yêu cầu các sản phẩm phải có tối thiểu 95% thành phần hữu cơ mới được cấp chứng nhận và sử dụng logo của họ. Ngoài ra, cơ quan này cũng cấm sử dụng chất bảo quản tổng hợp và hầu hết các chất hóa học trong quá trình chế biến.
• Dự án Non-GMO Project chính thức hoạt động vào năm 2010. Nhiệm vụ của dự án Non-GMO Project là:
* Duy trì và phát triển sản phẩm không biến đổi gen.
* Giáo dục người tiêu dùng nhận thức về GMOs.
* Cung cấp chứng nhận không biến đổi gen để người tiêu dùng lựa chọn.

3. Có trang thiết bị máy móc, dụng cụ làm sữa hiện đại và luôn được đảm bảo vệ sinh sạch sẽ trước, trong và sau quá trình làm sữa.

• Túi lọc sữa được Caroty sử dụng phải là #Ellie’s best (loại #bestseller trên #Amazon).
• Máy xay hạt được Caroty sử dụng phải là thương hiệu có tiếng #Philips Problend 6 (chuyên dùng xay các thực phẩm cứng).
• Nồi đun sữa được Caroty sử dụng phải là thương hiệu #Elmich (Thương hiệu gia dụng cao cấp tiêu chuẩn Châu Âu).

Bạn còn chần chờ gì nữa ?

Hãy gọi ngay cho chúng tôi qua số điện thoại: 0972.673.968 để nhận những chai sữa thực vật tuyệt hảo nhất và tham gia các chương trình khuyến mãi hấp dẫn: “Đổi vỏ chai lấy sữa”. 

  • Nội dung chương trình: Sưu tập đủ 6 vỏ chai để đổi lấy 1 chai sữa thực vật hương vị tùy chọn (cùng kích cỡ chai).
  • Thời gian áp dụng: Từ nay đến không biết bao giờ dừng 🙂

LƯU Ý ĐẶC BIỆT:

Trong vòng 24h kể từ khi nhận sản phẩm, nếu khách hàng không hài lòng về bất cứ điều gì liên quan đến sản phẩm hoặc đơn giản là không còn nhu cầu nữa, khách hàng chỉ cần cầm hóa đơn và sản phẩm đến cửa hàng Caroty.

Chúng tôi sẽ ngay lập tức hoàn trả 100% tiền mua hàng cho quý khách mà không cần quan tâm đến lý do. 

Hãy xem khách hàng nói gì về chúng tôi:

Inbox hoặc gọi ngay cho chúng tôi qua số điện thoại: 0972.673.968 nhé.

Tìm hiểu thêm về chúng tôi tại Caroty.com – Website duy nhất tại Việt Nam cung cấp các thông tin về sức khỏe có cơ sở khoa học